Chương 1. Tổng quan Chương 2. Các phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3. Thực nghiệm Chương 4.
Kết quả và thảo luận 5 CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀGRAPHITE 1. Graphite Graphite c cấu hình cacbon dạng lớp của carbon lai h a sp2 [1]. Trong cấu trúc của graphite, mỗi nguyên tử carbon tham gia liên kết cộng h a trị với ba nguyên tử cacbon xung quanh để tạo nên các lớp mạng phẳng, điện tử còn lại liên kết rất yếu với hạt nhân nên c thể chuyển động tự do trong mặt mạng, do đ graphite c tính dẫn điện.1 Cấu trúc graphite Trong cấu trúc của graphite, lực Van de Waals đã liên kết các lớp cacbon lại với nhau, tạo thành cấu trúc tinh thể không gian 3 chiều.
Khoảng cách gi a hai nguyên tử cacbon lân cận nhau trong cùng 1 lớp (0,142nm) bao giờ cũng nhỏ hơn so với khoảng cách gi a các lớp (0,34nm) [1]. Chính cấu trúc này đã làm cho khả năng dị hƣớng rất mạnh trong mạng tinh thể graphite. Bên cạnh đ , graphite không c vùng cấm năng lƣợng, đây là tính chất nổi trội của graphite so với các vật liệu tiên tiến khác. Các điện tử pi obitan phân bố ngang qua cấu trúc lục giác của nguyên tử cacbon g p phần vào tính dẫn điện của graphite.
Trong một tấm graphit định hƣớng, suất dẫn điện theo hƣớng song song với các tấm này lớn hơn so với suất dẫn điện theo hƣớng vuông g c với chúng.2 Mô hình liên kết của một lớp graphite [ 24] 1. Graphite nhiệt phân có tính định hƣớng cao (HOPG) Graphite nhiệt phân c tính định hƣớng cao (HOPG) c cấu trúc bề mặt nguyên tử phẳng, dễ tái tạo, trật tự và đặc điểm của n tƣơng tự với các vật liệu cacbon khác nhƣ graphite nhiệt phân, cacbon đen và cacbon thủy tinh. HOPG đƣợc sử dụng nhƣ một máy dò điện h a, sử dụng để nghiên cứu ảnh hƣởng lên bề mặt của n khi chiếu xạ laser, nhiệt và điện phân, tốc độ truyền điện tử trên điện cực cacbon, mối liên hệ gi a vi cấu trúc bề mặt và hoạt động h a học. HOPG là một dạng graphite c trật tự và độ tinh khiết rất cao và đƣợc xem là vật liệu graphene đa lớp (multilayered graphene)[1].
Giới thiệu về graphene 1. Cấu trúc Graphene là một lớp các nguyên tử carbon đƣợc xắp xếp thành mạng lục giác hai chiều (mạng hình tổ ong) [3].Trong số 6 electron tạo thành lớp vỏ của nguyên tử cacbon chỉ c bốn electron phân bố ở trạng thái lai h a obitan 2s và lai h a obitan 2p đ ng vai trò quan trọng trong việc liên kết h a học gi a các nguyên tử cacbon với nhau. Các trạng thái lai h a obitan 2s và obitan 2p của nguyên tử cacbon lai h a với nhau tạo thành ba trạng thái định hƣớng trong một mặt phẳng hƣớng ra ba phƣơng tạo với nhau một g c 120 0. Graphene là vật liệu c nhiều tính chất đặc biệt nhƣ dẫn nhiệt, dẫn điện tốt, c độ cứng rất lớn (gấp hàng trăm lần so với thép) và n gần nhƣ trong suốt [2, 3].
Cấu trúc graphene. Một số tính chất * Tính dẫn điện. Graphene c độ linh động điện tử rất cao, graphene c độ linh động điện tử vào khoảng 15.s ở nhiệt độ phòng. Trong khí đ Silic vào khoảng 1400 cm2 V.s, ống nano cacbon khoảng 10.s, bán dẫn h u cơ (polymer, oligomer) vào khoảng 10 cm2/V.
Điện trở suất của graphene khoảng 10-6 Ω.cm, thấp hơn điện trở suất của bạc (Ag), là vật chất c điện trở suất thấp nhất ở nhiệt độ phòng. Do vậy graphene đƣợc biết đến nhƣ là vật liệu c điện trở suất thấp nhất trong các loại vật liệu ở nhiệt độ phòng. Mở ra tiềm năng ứng dụng to lớn của graphene trong sản xuất các linh kiện điện tử tốc độ cao. * Tính chất nhiệt.
Độ dẫn nhiệt của vật liệu graphene đƣợc đo ở nhiệt độ phòng vào khoảng 5000 W/mK. Với khả năng dẫn nhiệt tốt, graphene hứa hẹn sẽ là một vật liệu tiềm năng cho các ứng dụng đặc biệt trong các linh kiện điện tử công suất. Để xác định độ bền của vật liệu graphene các nhà khoa học đã sử dụng một kỹ thuật đ là kính hiển vi lực nguyên tử, cụ thể ngƣời ta sử dụng một đầu típ c đƣờng kính khoảng 2nm bằng kim cƣơng làm lõm một tấm graphene đơn lớp. 8 * Tính chất quang.
Graphene đơn hầu nhƣ trong suốt, n hấp thụ chỉ 2,3% cƣờng độ ánh sáng và độc lập với bƣớc s ng trong vùng quang học. Vì vậy màng mỏng trong suốt, dẫn điện cao làm bằng vật liệu graphene đang đƣợc nghiên cứu và thử nghiệm. Tuy c nh ng tính chất lý h a vƣợt trội so với các vật liệu khác, tuy nhiên, graphene không c vùng cấm năng lƣợng và khả năng hòa tan thấp trong các dung môi. Biến tính bề mặt ở kích thƣớc nano bằng các màng phân tử h u cơ đƣợc cho là c thể mở rộng vùng cấm năng lƣợng và/hoặc thay đổi độ dẫn electron của graphene, từ đ mở rộng khả năng ứng dụng của vật liệu này trong các lĩnh vực nhƣ thiết bị điện tử, cảm biến sinh học và vật liệu composit.
Các phân tử hấp phụ c thể cho hoặc nhận điện tử và hoặc c thể mở rộng vùng cấm năng lƣợng của graphene. Ngƣợc lại, biến tính graphene thông qua hấp phụ h a học là phƣơng pháp tạo ra các sai hỏng (carbon lai h a sp3) trong mạng carbon lai h a sp2 của graphene thông qua các liên kết cộng h a trị gi a chất hấp phụ và graphene, chẳng hạn nhƣ quá trình hydro hóa, oxy h a, florua h a,. Vì graphene và đặc biệt là graphite nhiệt phân định hƣớng (HOPG) c độ hoạt h a rất thấp và các điện tử phân bố trải dài trong toàn bộ mạng hai chiều của chúng. Vì vậy, để biến tính thành công các vật liệu carbon lai h a sp2 các phân tử h u cơ đƣợc chọn phải c tính hoạt h a rất cao.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp cấy ghép điện h a để biến tính h a học bề mặt vật liệu HOPG (mô hình lý tƣởng để nghiên cứu thay thế cho graphene) bằng các phân tử diazonium. PHÂN TỬ DIAZONIUM Các muối diazonium là các hợp chất h u cơ trong đ c các tƣơng tác ion gi a nh m azo (-N2+) và anion X- (Cl-, F-, CH3COO-, .) Công thức h a học chung của n là RN2+X-, và trong trƣờng hợp này, chuỗiR c thể là nh m aliphatic hoặc nh m aryl; đ là một vòng thơm[25].4 Cấu trúc phân tử diazonium Đặc điểm quan trọng của phân tử diazonium là khả năng hình thành các g c aryl tự do sau khi giải ph ng các nguyên tử nitơ trong cấu trúc phân tử thông qua phản ứng h a học điện h a học. Do đ , các gốc tự do c tính hoạt h a rất mạnh và do đ dễ dàng tham gia phản ứng tạo thành các liên kết cộng h a trị với các vật liệu khác nhƣ kim loại, carbon và hình thành nên các loại vật liệu mới c độ bền cơ học h a học rất cao,. Chính vì điều này mà diazonium luôn luôn là ứng viên đầu tiên đƣợc lựa chọn để biến tính bề mặt các vật liệu nhằm chế tạo ra các loại vật liệu mới.
Các nh m chức trong phân tử diazonium hoàn toàn c thể thay đổi và hoàn toàn kiểm soát đƣợc tính chất của vật liệu mới theo mục đích sử dụng. Trong khuôn khổ đề án này, chúng tôi lựa chọn hai phân tử diazonium lần lƣợt là: phân tử 4-CBA và 3,5-TFA. Các phân tử này c chứa các nh m chức khác nhau, cụ thể phân tử 4-CBA c tính ƣa nƣớc do nh m chức COOH gây ra còn phân tử 3,5-TFA là phân tử kỵ nƣớc vì chứa nh m chức CF3. Vì vậy, chúng tôi hy vọng rằng chúng sẽ ảnh hƣởng khác nhau lên sự hình thành màng đơn lớp hay đa lớp.
Đồng thời, sự khác biệt về độ dính ƣớt bề mặt cũng đƣợc kỳ vọng sẽ ảnh hƣởng đến khả năng phát hiện ion kim loại trong dung dịch.5 Cấu trúc phân tử 4-CBA và 3,5-TFA 10 1. CẢM BIẾN ĐIỆN HÓA 1. Cảm biến điện hóa là Cảm biến điện h a dựa trên các phép đo điện thế, cƣờng độ dòng điện hoặc độ dẫn điện. Các nguyên tắc khác nhau luôn đòi hỏi một thiết kế cụ thể của tế bào điện h a.
Cảm biến đo điện thế Trong các cảm biến đo điện thế, sự chênh lệch điện thế gi a điện cực tham chiếu và điện cực chỉ báo đƣợc đo mà không làm phân cực tế bào điện h a, nghĩa là cho phép dòng điện rất nhỏ. Điện cực tham chiếu cần thiết để cung cấp điện thế nửa tế bào không đổi. Điện cực chỉ thị phát triển một điện thế thay đổi tùy thuộc vào hoạt tính hoặc nồng độ của chất phân tích cụ thể trong dung dịch. Sự thay đổi điện thế liên quan đến nồng độ theo phƣơng pháp logarit.
Phƣơng trình Nernst liên quan đến sự khác biệt tiềm năng tại bề mặt tiếp xúc với hoạt động của loài i trong các pha mẫu ( s ) và trong pha điện cực ( β ): RT ats EE ln at ' 0 Z F t Trong đ E 0 là thế điện cực chuẩn của điện cực cảm biến; a i là hoạt độ của ion, R là hằng số khí phổ quát; T là nhiệt độ tuyệt đối; F là hằng số Faraday; Z t là h a trị của ion Điện cực chọn lọc ion (ISE) để đo chất điện phân là một cảm biến đo điện thế phổ biến. Trong nhiều trƣờng hợp, cảm biến đo điện thế bao gồm một màng c thành phần độc đáo, lƣu ý rằng màng này c thể là chất rắn (tức là thủy tinh, tinh thể vô cơ) hoặc polyme dẻo và thành phần ISE đƣợc chọn để tạo ra điện thế chủ yếu liên kết với ion quan tâm thông qua quá trình liên kết chọn lọc ở bề mặt phân cách màng-điện phân. Cảm biến đo cƣờng độ dòng điện Ampe kế là một phƣơng pháp phân tích điện h a trong đ tín hiệu quan tâm là dòng điện phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ của chất phân tích. Khi 11 một số loại h a chất bị oxy h a hoặc khử (phản ứng oxi h a khử) ở các điện cực kim loại trơ, các electron đƣợc chuyển từ chất phân tích sang điện cực làm việc hoặc chất phân tích từ điện cực.
Hƣớng di chuyển của các electron phụ thuộc vào tính chất của chất phân tích và c thể đƣợc điều khiển bằng điện thế đặt vào điện cực làm việc. Hai hoặc ba điện cực c thể bao gồm một tế bào đo cƣờng độ dòng điện.