mở đầu về khuôn mẫu của tờ báo xuân (số Xuân 1930) với kỹ thuật trình bày tiên tiến. Từ đó về sau, làng báo của ba miền Bắc, Trung, Nam vẫn dựa theo khuôn mẫu báo Tết của Phụ nữ tân văn. Đây được xem là công lao rất lớn của ông Đào Trinh Nhất. Từ khi ra đời, ngay trong số báo đầu tiên, Phụ nữ tân văn đã nêu lên mục đích của tờ báo là đề cập đến những vấn đề liên quan đến phụ nữ, vai trò và trách nhiệm của phụ nữ trong xã hội.
Phụ nữ tân văn có cách trình bày khoa học, hình thức đẹp, nội dung phong phú với những chuyên mục thường xuyên như sau: - Xã thuyết - Vấn đề giải phóng phụ nữ - Phụ nữ và gia đình (gia chánh) - Vệ sinh, khoa học thường đàm - Gần đây trong nước có những gì? - Thời sự đoản bình - Tiểu thuyết, phóng sự - Thư cho bạn (lá thư bạn gái) 13 - Văn uyển - Khảo luận - Nhi đồng v.v… Trong 6 năm hoạt động trên văn đàn Việt Nam (1929-1935), Phụ nữ tân văn đã thu hút và quy tụ được rất nhiều cây bút tên tuổi trong làng văn làng báo trong cả nước bấy giờ như: Đào Trinh Nhất, Phan Khôi, Trịnh Đình Thảo, Tản Đà, Nguyễn Tử Thức, Bùi Thế Mỹ, Cao Văn Chánh, Nguyễn Háo Đàng, Nguyễn Háo Ca, Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Thiếu Sơn, Vân Đài, Viên Hoành, Nguyễn Thị Manh Manh, Hồ Văn Hảo, Mộng Tuyết, Phương Lan, Phan Thị Nga, Cao Ngọc Môn, Trần Thanh Nhàn, v.v… Đến năm 1933, 1934 có thêm hai kiện tướng là Phan Văn Hùm, Diệp Văn Kỳ cộng tác. Ngoài những cây bút thường trực trong ban biên tập, Phụ nữ tân văn còn cộng tác thường xuyên với các nhà văn, nhà báo tên tuổi như cụ Sào Nam Phan Bội Châu, bà Đạm Phương nữ sĩ, ông Lê Đức, bác sĩ Trần Văn Đôn, cô Phạm Vân Anh, Huỳnh Thị Bảo Hòa, bà luật sư Phan Văn Gia, v.v… Những năm Phụ nữ tân văn hoạt động với một lực lượng hùng hậu kể trên đã thật sự trở thành nơi hội tụ của những ngòi bút sáng giá của cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Tất cả những vị ấy đoàn kết hoạt động, cùng chung chí hướng, cùng phấn đấu cho công bình của phụ nữ và con người trong xã hội dưới mái nhà thân thương Phụ nữ tân văn. Phụ nữ tân văn từ lúc thành lập với một đường lối “kính hiền đãi sĩ”, là một tờ báo rất ưu ái trong việc trả tiền nhuận bút và hậu đãi những ai cộng tác với tờ báo để không một nhân tài nào phải bị thiệt thòi khi giúp bài vở cho báo, nhất là đối với thành viên ban biên tập của báo.
Nhà phê bình Thiếu Sơn cũng vui mừng mà nói rằng “lần thứ nhất, trong đời văn của tôi, tôi được nhận món tiền thù lao to tát như thế”. Điều đó đủ để cho thấy sự đối đãi hậu hĩ và trọng nhân tài của Phụ nữ tân văn. 14 Tờ Phụ nữ tân văn đã ghi đậm một dấu ấn lịch sử của một thời kỳ mà phụ nữ đã khẳng định vai trò của mình trên diễn đàn báo giới cũng như văn đàn đòi “niêm phong cái gói tam tùng”. Tờ báo vững niềm tin với tư tưởng giải phóng phụ nữ, bình đẳng giới, mở mang dân trí, đề cao vai trò của giáo dục đối với phụ nữ và thiếu niên nhi đồng.2 Các yếu nhân của Phụ nữ tân văn 1.1 Ông Nguyễn Đức Nhuận, chủ nhiệm báo Phụ nữ tân văn Phụ nữ tân văn là tờ báo thứ hai do nữ giới sáng lập và tiếp nối con đường đấu tranh cho nữ giới (tờ báo đầu tiên là tờ Nữ giới chung do Sương Nguyệt Anh làm chủ bút).
Ông Nguyễn Đức Nhuận (1900-1968), làm chủ nhiệm tờ Phụ nữ tân văn. Ông dùng tên thật nhưng đồng thời cũng là bút danh. Ông sinh năm 1900 tại làng Huyền Hội, tỉnh Trà Vinh. Vợ của ông là bà Cao Thị Khanh, bà là người gốc ở đất Gò Công, nay thuộc tỉnh Tiền Giang, cùng tuổi với chồng và chính là người sáng lập Phụ nữ tân văn, còn ông thì làm chủ nhiệm.
Trước khi bước vào làng báo, ông bà Nguyễn Đức Nhuận từng mở cửa hàng kinh doanh tơ lụa, với thương hiệu nổi tiếng bấy giờ là Soierie Nguyễn Đức Nhuận, cửa hàng đặt tại số 42, rue Catinat, Sài Gòn (nay là Đồng Khởi), hoạt động từ những năm 1922-1923. Ông bà có một cửa hàng thứ hai cũng kinh doanh mặt hàng vải tơ lụa cao cấp đặt tại số 48-50 đường Vannier( nay là Ngô Đức Kế, Quận 1, T.P Hồ Chí Minh) mang tên Vĩnh Tấn. Đây là tên gộp từ hai tên của hai người con trai của ông bà là Nguyễn Đức Vĩnh (trưởng nam), người con trai thứ hai là Nguyễn Đức Tấn. Người con trai trưởng sinh năm 1920, ông là một họa sĩ chuyên vẽ trên đồ gốm, đã tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, từng làm chủ bút báo Giải phóng(1964-1976), tờ báo cách mạng đầu tiên và chung cho cả miền Đông Nam Bộ.
Ông đã hi sinh trong cuộc cách mạng văn nghệ ở Nam Bộ vì bị giặc Pháp bắn trong lúc đi giấu chiếc máy in giữa bụi tre ở Thủ Đức. Người con trai thứ hai sinh năm 1922, đậu bằng tú tài toàn phần Lycée Pétrus Ký. Sau đó, ông sang Pháp du học, đậu vào trường École Nationale de la 15 Phôtographic et du Cinéma. Học xong, ông thi tiếp vào học viện Cao đẳng điện ảnh và làm việc tại Đài truyền hình Pháp, rồi về làm ở một xí nghiệp hóa chất phục vụ chuyên môn cho ngành điện ảnh.
Ông mất vào ngày 05-7- 2005. Ông bà còn có hai cô con gái là Nguyễn Thị Lộc sinh 1924 và Nguyễn Thị Hiền sinh 1926. Cả hai bà đều sang Pháp du học, làm việc ở Pháp và mất trên đất Pháp. Ông bà Nguyễn Đức Nhuận cũng thường xuyên từ Sài Gòn sang Pháp thăm các con.
Bà Nguyễn Đức Nhuận đã qua đời tại Pháp năm 1962. Ông Nguyễn Đức Nhuận trở về Sài Gòn và mất ngày 05-6-1968.2 Đào Trinh Nhất, chủ bút báo Phụ nữ tân văn Đào Trinh Nhất (1900-1951) là học giả, nhà báo cự phách bấy giờ. Ông sinh ra tại Huế nhưng quê gốc của ông ở làng Thượng Phán, huyện Huỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Trước khi làm chủ bút báo Phụ nữ tân văn, ông từng cộng tác với nhật báo Thần chung của Diệp Văn Kỳ.
Ông là một trong những thành viên trong nhóm Tứ Đại, một nhóm nổi tiếng trong làng báo Sài Gòn bấy giờ với các tên tuổi: Đào Trinh Nhất, Phan Khôi, Diệp Văn Kỳ, Bùi Thế Mỹ. Nhóm Tứ Đại này hội tụ đầy đủ và gắn bó mật thiết ở Phụ nữ tân văn. Năm 1932, ông từng bị bắt vì bị tình nghi liên quan đến hình sự nhưng ông thật sự vô tội. Sau tai nạn này, ông đã không còn cộng tác với Phụ nữ tân văn và sang củng cố tờ báo Tân văn của Phan Văn Thiết.
Trong thời gian này, Phan Khôi tạm thời làm chủ bút. Đến năm 1933 thì ông Phan Văn Hùm đã thay thế ông Đào trong cương vị chủ bút Phụ nữ tân văn. Cộng tác với Tân văn một thời gian, ông sang cộng tác với tờ Đuốc Nhà Nam, Việt Nam của ông Nguyễn Phan Long. Đến năm 1936, ông lại sang chủ trương tuần báo Mai và bị nạn một lần nữa nhưng lần này thực dân Pháp trục xuất ông về Bắc.
Ông về Bắc thì báo Mai cũng đình bản sau đó. Về Hà Nội, ông vẫn tiếp tục làm nghề báo. Năm 1949, ông trở lại miền Nam rồi qua đời năm 1951 tại Sài Gòn.3 Phan Khôi, vị chủ soái của nhóm trí thức trên Phụ nữ tân văn 16 Phan Khôi (1887-1959), quê làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Phan Khôi là con của Phó bảng Phan Trần (tri phủ Điện Khánh) và bà Hoàng Thị Lệ (con gái Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu).
Phan Khôi học giỏi Nho văn và đỗ tú tài năm 19 tuổi. Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và làm việc cho tạp chí Đăng Cổ Tùng Báo. Khi tờ tạp chí bị cấm ông tới Nam Định rồi về Hải Phòng ẩn náu. Ít lâu sau ông bí mật về Quảng Nam hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Trong một cuộc biểu tình đòi giảm thuế, ông bị bắt và bị giam tại nhà tù Quảng Nam đến năm 1914 thì được ân xá. Ra tù, ông lại về Hà Nội viết cho báo Nam Phong. Vì bất đồng với Phạm Quỳnh, ông rời Hà Nội vào Sài Gòn viết cho báo Lục Tỉnh Tân Văn. Năm 1920, ông lại trở ra Hà Nội viết cho báo Thực Nghiệp Dân Báo và báo Hữu Thanh.
Năm 1928, Thực Nghiệp Dân Báo và Hữu Thanh bị đóng cửa, ông lại trở vào Nam viết cho báo Thần Chung và Phụ nữ tân văn. Năm 1931, Phan Khôi lại trở ra Hà Nội viết cho tờ Phụ nữ thời đàm. Năm 1936, ông vào Huế viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản báo Sông Hương. Năm 1939, Sông Hương đóng cửa, Phan Khôi lại trở vào Sài Gòn dạy học chữ Nho và viết tiểu thuyết.
Sau năm 1945, ông được Chủ Tịch Hồ Chí Minh mời từ Quảng Nam ra Hà Nội tham gia kháng chiến với cương vị một nhà văn hóa. Cuối năm 1954 hòa bình lập lại, Phan Khôi về Hà Nội cùng với các văn nghệ sĩ khác. Trong thời gian 1956- 1957, là một trong những người thành lập tờ Nhân Văn và có các bài phê phán giới lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ, ông bị cấm sáng tác cho đến khi qua đời năm 1959 tại Hà Nội. Phan Khôi từng làm chủ bút báo Phụ nữ tân văn trong một thời gian ngắn và là một trong những người cộng tác đắc lực với Phụ nữ tân văn.
Hàng trăm bài báo của ông đã đăng trên các số của tuần báo này trong các năm 1929, 1930, 1931, 1932. Năm 1933 ông ra Hà Nội làm báo Phụ nữ thời đàm cho đến cuối năm 1934 ông lại liên tục có bài đăng Phụ nữ tân văn trong các số cuối cùng. Chính trên Phụ 17 nữ tân văn đã diễn ra các cuộc tranh luận xung quanh nhiều vấn đề như việc hiểu và đánh giá Nho giáo, về nền học thuật của nước ta- quốc học, về việc dùng chữ quốc ngữ thế nào cho đúng, trong đó ông thường là cây bút châm ngòi. Thậm chí ông còn tạo nên tranh luận ngay ở những đề tài nhỏ hơn như là đánh giá nhân vật Võ Tắc Thiên trong lịch sử Trung Quốc, về tục nhuộm răng của người Việt, về các vấn đề của logic học.Ông đã trở thành “vai ngự sử trên đàn văn” lúc bấy giờ.