Chương I : Trần Nhân Tông — ông hoàng, giáo chủ, triết gia, thi nhân Chương II: Các cảm hứng lớn trong sáng tác của Trần Nhân Tông Chương III: Các hình tượng trung tâm trong sáng tác của Trần Nhân Tông Chương IV: Trần Nhân Tông và sự khởi đầu của dòng văn học Nôm Việt Nam Tran Nhân Tông và máy ván dé noi bật của văn hoc thời Tran LUẬN VĂN THẠC SĨ | 10 CHƯƠNG MỘT TRAN NHÂN TONG —- ÔNG HOANG, GIÁO CHỦ, TRIET GIA, THI NHÂN Trần Nhân Tông là một trong những vị vua nổi tiếng nhất của dân tộc ta. Tuy nhiên, ông dé lại dấu ấn sâu đậm không chỉ trong sự nghiệp dé vương, mà trong cả lịch sử tư tưởng, triết học, tôn giáo và văn học, ông cũng là một gương mặt mãi mãi không phai mờ. Trần Nhân Tông là một minh quân, một triết gia, một giáo chủ thống nhất và sáng lập một dòng thiền thuần túy Việt Nam, và một thi nhân với những tác phẩm độc đáo, những áng văn tuyệt tác trong nền văn chương Việt Nam. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này và hầu hết các công trình đều thống nhất ý kiến cho rằng Trần Nhân Tông là một nhân cách toàn tài và đã xây dựng được sự nghiệp lỗi lạc trên cả ba vai trò: một vị hoàng dé, một vị thiền sư và một tác gia.
Vì vậy đã có nhiều nhà nghiên cứu gọi ông là Vua Bụt hay Vua Phật. Trong cả ba sự nghiệp trên và trên tất cả các vai trò, Trần Nhân Tông luôn thé hiện một khát vọng mãnh liệt — khát vọng tìm kiếm sự thống nhất: thống nhất đất nước, thống nhất giáo hội, thống nhất dân tộc, thống nhất lãnh thổ. Và cả ba Tran Nhân Tông và máy ván dé noi bật của văn hoc thời Tran LUẬN VĂN THẠC SĨ | 11 sự nghiệp này không những không mâu thuẫn, xung đột nhau, mà ngược lại còn bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Trong chương đầu của luận văn, chúng tôi muốn dựng lên một bức chân dung phác họa về vị Hoàng dé này, dé có một cái nhìn tổng quát về cuộc đời, những chiến công, công lao của ông, mặt khác tạo tiền đề cho những nghiên cứu sâu về một số vấn đề nồi bật trong sự nghiệp văn học của ông cũng như của đời Tran.
Nghiên cứu cua chung tôi đi vào bốn khía cạnh chủ đạo, cũng là bốn vai trò mà ông đã đảm nhiệm xuất sắc: vai trò một ông hoàng, một giáo chủ sáng lập dòng thiền Trúc Lâm, một nhà tư tưởng và cuối cùng là một tác gia văn học. Chúng tôi hy vọng thông qua việc dựng lên bức chân dung phác họa này, có thể phần nảo cung cấp cho độc giả một cái nhìn toàn diện và thấy được mối liên hệ mật thiết giữa các vai trò của Trân Nhân Tông. Ong hoàng Trần Nhân Tông Trong sự nghiệp đế vương của mình, Trần Nhân Tông đã thực hiện được rất nhiều việc. Trong cả thời chiến cũng như thời bình, ông đều nỗi lên với vai trò một vị minh quân không ngừng tìm ra những kế sách đối phó với tình thế hiểm nghèo và phát triển đất nước.
Trần Nhân Tông và hai cuộc chiến tranh vệ quốc Vua Trân Nhân Tông và cuộc chiến tranh vệ quốc 1285 Năm 20 tuổi (năm Bảo Phù thứ 6, tức năm 1278), Trần Nhân Tông lên ngôi. Ông lên ngôi trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt và nguy ngập của đất nước. Đó là thời điểm Hốt Tất Liệt ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta trong khi đang thanh toán những cứ điểm cuối cùng của nhà Tống Trung Quốc. Tháng 10 Trần Nhân Tông lên ngôi thì tháng I1 nhuận, Sài Thung, sứ bộ của Hốt Tắt Liệt, đã đến Ung Châu thông qua con đường Giang Lăng có ý mưu Tran Nhân Tông và máy ván dé noi bật của văn hoc thời Tran LUẬN VĂN THẠC SĨ | 12 tính nước ta, mượn cớ nhà vua không theo mệnh mà tự lập, dựng lời bảo vua khiên vào châu.
Trước tình hình đó, vua Trần Nhân Tông vẫn khôn khéo thực hiện chính sách ngoại giao mềm mỏng nhằm kéo dai thời gian, dé quân dân Đại Việt chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng bước vào cuộc chiến. Đồng thời ông cũng tiễn hành một loạt biện pháp nhằm nâng cao tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao dé đối phó với kẻ địch hung bao đang ngày càng tiễn gần. Về mặt chính tri, đức vua thực hiện chính sách an dân, ôn định xã hội băng việc “đại xá cho thiên hạ” và cho giải quyết những bất công, oan ức tồn đọng trong dân chúng. Về kinh tế, vua ban ra các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, phát triển thương mại.
Về ngoại giao, ngoài việc đối phó với nhà Nguyên, sau khi lên ngôi, Trần Nhân Tông còn phải giải quyết vấn đề xây dựng mối quan hệ hữu hảo với nước láng giềng Chiêm Thành, kiên quyết bang moi giá giữ ổn định biên giới phía nam này để kẻ địch không thể thừa cơ tiến đánh nước ta qua con đường này. Nha vua đã gửi hai vạn quân và 500 chiến thuyền giúp Chiêm Thành chống lại quân Nguyên, việc làm này đã tạo nền tảng cho việc Chiêm Thành dâng hai châu Ô, Lý sáp nhập vào nước ta sau này. Về quân sự, sau khi nghe tin Toa Đô đem 50 vạn quân tinh nhué với ý đồ tiến vào xâm lược nước ta, nhà vua đã tổ chức hội nghị quân sự Bình Than để bàn kế hoạch chống địch. Trước đó, nhà vua đã đập tan mưu đồ thiết lập chính quyền bù nhìn Trần Di Ái của quân Nguyên.
Song song với đó nhà vua tiếp tục thực hiện các biện pháp ngoại giao mềm dẻo thông qua trao đôi thư từ và cử sứ sang nước Nguyên. Dưới sự lãnh đạo của vua Tran Nhân Tông, quân va dân Đại Việt đã chuân bi mọi mặt tinh than và vật chat, đê chiên dau và san sang chiên dau chong lại kẻ thù đầy đã tâm và cương quyết giành chiến thang về cho dân tộc. Trong cuộc chiến này, Hét Tắt liệt đã chuẩn bị rất kỹ càng nhằm nghiền nat Đại Việt dưới gót giày xâm lược của chúng. Tuy nhiên thực tế diễn ra không Tran Nhân Tông và máy ván dé noi bật của văn hoc thời Tran LUẬN VĂN THẠC SĨ | 13 giống như mong đợi của hắn.
Năm 1285, nhân dân ta toàn thang. Có thể điểm ra ở đây một số diễn biến, thắng lợi chính dẫn đến thắng lợi cuối cùng của dân tộc ta vào năm 1285. Thông qua đó chúng ta sẽ thấy được vai trò dẫn dắt, lãnh đạo toàn dân tộc chống lại kẻ thù hùng mạnh của vua Trần Nhân Tông. Trận Nội Bàng: Trong trận đánh tại ải này, hai tướng của ta bị bắt và tuyến phòng ngự chủ yếu dé bảo vệ kinh thành Thăng Long cũng bị phá vỡ.
Do đó, ta phải kịp thời đưa ra những quyết định chiến lược “rút lui chiến lược và phản công chiến lược”. Cuộc hội nghị chớp nhoáng giữa Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo sau khi mặt trận Nội Bàng tan vỡ, thể hiện tư duy quân sự sắc sảo không chỉ của Trần Hưng Đạo, mà của chính Trần Nhân Tông với tư cách là vị tổng tư lệnh quân đội của nước ta thời bấy giờ. Việc Trần Nhân Tông bỏ ăn cả ngày dé đi gặp Trần Hưng Dao đủ chứng tỏ tình hình nguy ngập cũng như việc Trần Nhân Tông đã bám sát tình hình tác chiến của quân đội ta thời bấy giờ chặt chẽ va sit sao tới mức nao, dé khi tình hình diễn biến phức tạp bat loi và có nhiều nguy cơ, thì vua Trần Nhân Tông đã chủ động đi tới hiện trường giải quyết dứt điểm các vấn đề vừa mới nảy sinh. Sau trận Nội Bàng, Thoát Hoan đã triển khai ngay kế hoạch tan công Vạn Kiếp và chính thức tấn công ngay khi Tết Ất Dậu chưa tới.
Một trận đánh ác liệt đã nô ra. Tiếp đó là Trận Binh Than, một trận thủy chiến dữ dội nhất của lịch sử quân sự dân tộc do chính vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy với cả 10 vạn quân tham dự. Có thể nói đây là một trong những trận thủy chiến lớn nhất, để tiêu hao sinh lực địch, đồng thời thê hiện chủ trương rút lui chiến lược của bộ chỉ huy tối cao. Trận Thăng Long: Sau các trận Vạn Kiếp, Phả Lại và Bình Than, quân địch tiến đánh Vũ Ninh và Đông Ngạn, rồi tiến xuống Gia Lâm.
Trong khi đó, quân ta rút về Thăng Long theo đường sông Thiên Đức và có những trận đánh lẻ tẻ với Tran Nhân Tông và máy ván dé noi bật của văn hoc thời Tran LUẬN VĂN THẠC SĨ | 14 quân Nguyên trên đường sông này. Cho nên, khi Thoát Hoan cho quân buộc bẻ làm cầu dé vượt sông Thiên Đức, tức sông Đuống ngày nay, dé lên bờ sông Phú Lương, tức sông Hồng, vua Trần Nhân Tông, một lần nữa, lại “nỗ pháo, hô to, đòi đánh”, trực tiếp chỉ huy trận thành Thăng Long. Sau trận Đà Mạc và A Lỗ, Đại Hoàng, quân ta rút khỏi Thăng Long, sau khi vua Trần Nhân Tông rút khỏi Thăng Long và đưa quân về đóng ở vùng Thiên Trường và Trường Yên, thì quân địch ở vào một tình thé hết sức khó khăn. Ngày mông sáu, vua Trần Nhân Tông cùng Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải thực hiện một cuộc rút lui chiến lược.
Toàn bộ quân chủ lực nhà Trần ngoài những đơn vị được bố trí ở các địa phương, đã tập trung về Thiên Trường, rồi thực hiện một cuộc rút lui chiến lược tại cửa biển Giao Thủy. Từ đây, vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng và các tướng đã chia quân tiến hành một cuộc phản công lớn, giải phóng Thăng Long, giải phóng đất nước thoát khỏi sự chiếm đóng của quân thù. Vào đầu tháng tư, mũi tiến quân đầu tiên của cuộc phản công là do chính Quốc công Trần Hưng Đạo chỉ huy nhắm vào cứ điểm A Lỗ. Sau chiến thắng A Lỗ, quân Đại Việt tiếp tục tiến đánh Tây Kết và Hàm Tử quan, làm bàn đạp tiễn lên giải phóng kinh đô Thăng Long.
Tiếp đó là đến chiến thắng Chương Dương. Từ những chiến thăng quyết định Hàm Tử và Chương Dương, cánh cửa tiến vào giải phóng kinh thành Thăng Long cho quân ta đã mở toang. Chiến dịch giải phóng thủ đô Thăng Long diễn ra hết sức khốc liệt và hoành tráng. Sau một loạt các chiến thắng như chiến thắng Vạn Kiếp, Phù Ninh quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi, vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng và các tướng lĩnh như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung v.