Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIA BAN, VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Khung lý thuyết nghiên cứu 1.1 Các lý thuyết về Tiếp biến văn hóa Thuật ngữ “tiếp biến văn hóa” do nhà Nhân học người Mỹ John Wesley Powell (1834-1902) tạo ra từ năm 1880 dé nói về sự biến đổi trong lối sống và suy nghĩ của những người nhập cư khi tiếp xúc với xã hội Mỹ [6, tr. Đến năm 1936, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội Mỹ cho ra đời một Ủy ban chịu trách nhiệm tổ chức việc nghiên cứu về các hiện tượng tiếp biến văn hóa. Ủy ban đã xây dựng Bản ghi nhớ dành cho việc nghiên cứu tiếp biến văn hóa, trong đó đã đưa ra định nghĩa về Tiếp biến văn hóa (Acculturation), được xem là một đóng góp quý giá mang tính lý thuyết.
Theo đó, “Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hoặc cả hai nhóm” [105, tr. Năm 1978, định nghĩa về “tiếp biến văn hóa” đã được đưa ra ở cuộc họp UNESCO châu Á tại Téhéran như sau: Tiếp biến văn hóa là quá trình một nhóm người hay một cá nhân qua tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một nhóm khác, tiếp thụ (tự nguyện hay bắt buộc, toàn bộ hay từng bộ phận) nền văn hóa của nhóm này [33, tr. Tại Việt Nam, thuật ngữ này được các nhà khoa học dịch theo nhiều cách khác nhau: hỗn dung văn hóa, tiếp xúc và biến đồi văn hóa, giao thoa văn hóa, v. Trần Quốc Vượng cho rằng: giao lưu và tiếp biến văn hóa là quá trình luôn đặt mỗi tộc người phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tổ nội sinh và yếu tố ngoại sinh.
Hai yếu tổ này luôn có khả năng chuyên hóa cho nhau và rất khó tách biệt trong một thực thé văn hóa [105, tr. Hay quan niệm của Hà Văn Tấn về tiếp biến văn hóa là: “Khi hiện tượng acculturation xảy ra, không phải chỉ có sự tiếp xúc hay hòa lẫn (đan xen, hỗn dung.) các văn hóa khác nhau của cá nhóm mà quan trọng là có sự biến đổi mô thức văn hóa của ban đầu của một hay cả hai nhóm” [91, tr. Các lý thuyết về tiếp biến văn hóa đã có một quá trình phát triển phong phú với nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học từ đầu thế kỷ XX. Trong giai đoạn 1918-1920, lý thuyết tâm lý học về tiếp biến văn hóa lần đầu tiên được nhà xã hội học William Isaac Thomas (1863-1947) và nhà triết học, xã hội học Frorian Witold Znaniecki (1882-1958) của trường DH Chicago đề xuất trong công trình The Polish peasant in Europe and America: monograph of an immigrant group [Nông dân Ba Lan ở châu Au và châu Mỹ: chuyên khảo về một nhóm người nhập cư].
Thông qua 16 nghiên cứu về vấn đề người nhập cư gốc Ba Lan tại hai châu lục này, hai nhà khoa học đã phác họa ba dạng thức tiếp biến văn hóa tương ứng với ba loại hình nhân cách: loại hình Bohemian (người nhập cư chấp nhận nền văn hóa chủ nhà và từ bỏ văn hóa gốc); loại hình Philistine (người nhập cư không chấp nhận nền văn hóa chủ nhà nhưng vẫn giữ được văn hóa gốc); loại hình Creative-type [sáng tạo] (người nhập cư có khả năng thích ứng với văn hóa chủ nhà trong khi vẫn giữ được văn hóa gốc) [28, tr. Vào cuối thế kỷ XX, một lý thuyết mô hình tiêu biểu về tiếp biến văn hóa đã được nhà tâm lý học người Canada John. Theo đó, 4 chiến lược tiếp biến văn hóa gồm: sự đồng hóa (Assimilation), sự chia tách (Separation), sự hòa nhập (Intergration) và sự cô lập (Marginalization). Berry, sự đồng hóa xảy ra khi các cá nhân chấp nhận các chuẩn mực văn hóa của nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà, vượt lên văn hóa gốc của mình.
Sự hòa nhập xảy ra khi các cá nhân từ chối nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà, trong thiện ý bảo tồn văn hóa gốc của mình. Sự chia tách này thường được tạo điều kiện thuận lợi bởi sự nhập cư vảo các phần đất tách ra của các tộc người. Sự hòa nhập xảy ra khi các cá nhân có thé chấp nhận các chuẩn mực văn hóa của nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà, trong khi vẫn duy trì văn hóa gốc của mình. Sự cô lập xảy ra khi các cá nhân từ chối nền văn hóa gốc của họ và nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà [28, tr.
Trong luận văn này, tiếp biến văn hóa được hiểu là khái niệm gồm có hai nội dung cơ bản: “tiếp xúc” và “biến đổi”. Do đó, có thê hiểu rằng, tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp xúc lâu dài của hai hay nhiều nền văn hóa dẫn đến sự biến đổi mô thức văn hóa của một hay các nền văn hóa ấy. Tôi đã vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa để nghiên cứu những điểm chính như sau: Thứ nhất, chỉ ra bối cảnh văn hóa-xã hội đương thời tại Sài Gòn dưới chế độ VNCH và quá trình người dân Sài Gòn (chủ thể) tiếp nhận các yếu tố văn hóa bên ngoài; từ đó, xác định phương thức tiếp biến văn hóa thông qua kênh chuyên tiếp là các bộ phim điện ảnh nước ngoài vào Sài Gòn (1955-1975). Thứ hai, chỉ ra hoạt động và vai trò của các cá nhân trong việc tiếp nhận giá trị văn hóa ngoại lai, thẩm định yếu tố văn hóa mới này và thúc đây sự phát triển, biến đổi của nó trong khu vực văn hóa của mình.
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này, các cá nhân được hiểu là tầng lớp trí thức-tư sản tại Sài Gòn (1955-1975) hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh (các doanh nghiệp nhập khâu và phát hành phim nước ngoài, những người làm phim trong nước, đội ngũ nhà báo-nhà phê bình phim, v.) và khán gia xem phim tại Sai Gòn. Thi ba, lý giải những ảnh hưởng, vai trò của 17 của các bộ phim điện ảnh nước ngoài đến đời sống văn hóa-xã hội đương thời tại đô thị Sài Gòn, đặc biệt là ảnh hưởng của nó đối với điện ảnh nội địa.2 Các lý thuyết trong nghiên cứu văn hóa đô thi “Đô thị” là một khái niệm được sử dụng và nghiên cứu rộng rãi trong ngành khoa học xã hội và nhân văn. Theo nhà nghiên cứu Claude Fischer, đô thi (urban) được định nghĩa theo sự tập trung dân SỐ, SỐ lượng người được tập hợp tại một nơi định cư càng nhiều thì nơi đó cảng “đô thị” [87, tr. Xét trên khía cạnh văn hóa, đô thị là cái nôi sáng tạo và nuôi dưỡng nhiều giá trị văn minh của nhân loại.
Đô thị là môi trường, nền tang cho sự phát triển văn minh, thường gan liền với sự đổi mới và tiến bộ. Nó vừa là môi trường sống do con người tạo lập, vừa là tác nhân dé hoàn thiện và phát triển con người. Các đô thị lớn trong lịch sử chính là những trung tâm hội tụ, giao lưu các luồng văn hóa khác nhau trên thế giới. Do đó, văn hóa đô thị là su tong hòa các giá trị truyền thống cùng các tiến bộ văn minh của thời đại, nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chat-tinh thần của thị dân.
Tác giả Trần Ngọc Khánh nhận định rằng: Văn hóa đô thị tổng hòa toàn thê các thành tố văn hóa của loài người trong quá trình hoạt động về mọi phương diện [.] nhằm tạo lập đời sống, cải thiện môi trường sống, làm cho con người phát triển toàn diện và cân bằng [36, tr. Do đó có thể hiểu rằng, văn hóa đô thị là một phạm trù tồn tại khách quan trong mối quan hệ đời sống thành thị, bao hàm các yếu tố văn hóa tĩnh (sản phẩm văn hóa vật chat, các thiết chế văn hóa, v.) và các yếu tô văn hoá động (bao gồm cách thức sản xuất, hình thức sinh hoạt văn hoá của cư dân đô thị như phong tục tập quán, lễ hội, sinh hoạt tôn giáo-tín ngưỡng, các hoạt động khoa học, giáo dục, văn hoá, thé thao, v. Từ đó, thông qua các phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà chúng ta có thé xác định lối sống của thị dan. Xuất phát từ học thuyết “Tiến hóa văn hóa và xã hội”, văn hóa đô thị bắt đầu được các nhà khoa học chú ý ké từ đầu thé kỷ XX, tiêu biểu là công trình Cities in evolution [Thanh thị tiến hóa] (1915) của Patrick Geddes; cùng với sự xuất hiện trường phái xã hội học ChicagoỶ vào thập niên 1920 ở Mỹ chuyên nghiên cứu đô thị.
Trong phạm vi nghiên cứu về văn hóa đô thị, Lewis Mumford được coi là người khai sáng ra ngành hoc này với công trình The Culture of Cities [Van hóa của các đô thị] 3 Trường. phái xã hội học Chicago là tập hợp những nghiên cứu xuất hiện trong những năm 1920 và 1930 chuyên về xã hội học đô thị của trường ĐH Chicago. Trường phái này tập trung nghiên cứu về môi trường đô thị bằng cách kết hợp lý thuyết và nghiên cứu thực địa dân tộc học ở Chicago. Các nhà khoa học theo trường phái xã hội học Chicago thường tập trung xem xét hành vi của con người như được định hình bởi các câu trúc xã hội và các yếu tố môi trường vật lý, thay vì các đặc điểm di truyền và cá nhân.
Trong phạm vi không gian thành phố Chicago, họ quan sát những quan hệ giữa các nhóm văn hóa khác nhau, những liên hệ xã hội giữa những người nhập cư với nhau hay quan hệ giữa người nhập cư và dân chính gốc. 18 (1938) và hàng loạt các công trình khác có liên quan về đô thị [36, tr. Trong những năm 1960 và 1970, các nghiên cứu cộng đồng đã chỉ ra mâu thuẫn trong giả thuyết về phi tổ chức xã hội của những nghiên cứu thuộc Trường phái Chicago và đề cao những mối quan hệ sơ cấp quan trọng, khỏe mạnh và đời sống cộng đồng tích cực trong những khu phố ở đô thị [87, tr. Đặc biệt phải ké đến nghiên cứu của Herbert Gans và Oscar Lewis, còn gọi là Lý thuyết thành phan đô thị (Compositional Theory of Urbanism), trong đó, nghiên cứu của Gans vào năm 1962 về những dân làng đô thị (Urban Villagers) - những người Mỹ gốc Ý trong khu 6 chuột ở Boston - cho thấy đời sống trong cộng đồng của giai cấp lao động được tổ chức khá chặt chẽ.