Chương 1 của đề tài đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ giới thiệu những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến văn hóa, văn hóa tổ chức, các phương pháp nghiên cứu, đo lường văn hóa tổ chức, chọn lựa mô hình nhận diện và đo lường văn hóa tổ chức. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm trừu tượng, phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về văn hóa, tiếp cận văn hóa với nhiều khía cạnh khác nhau.
Văn hóa hay văn minh gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội (Tylor, 1871). Tylor xem văn hóa và văn minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau (Boas, 1911). Theo khái niệm này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người. Văn hóa là thừa kế từ các kinh nghiệm và niềm tin được đúc kết từ cuộc sống (Sapir, 1921).
Văn hóa là tổng hợp giá trị của hành động và suy nghĩ, quá khứ và hiện tại của một xã hội. Nó là sự tổng hợp của các truyền thống, niềm tin, thủ tục, phương pháp được kế thừa (Bogardus, 1934). Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo (Kroeber và Kluckhohn, 8 1952).Văn hóa là toàn bộ hành vi truyền thống phức tạp được phát triển bởi loài người và tiếp tục được kế thừa và học tập bởi mỗi thế hệ. Văn hóa chưa hẳn mang tính chính xác, nó chỉ là các hành vi truyền thống, là đặc trưng cho một xã hội nhất định, hoặc một nhóm xã hội, hoặc một chủng tộc, một khu vực nhất định trong một thời gian nhất định (Mead, 1937).
Khái niệm văn hóa ở đây có tính kế thừa lịch sử. Một nền văn hóa là chế độ của cuộc sống là sự tiếp nối của cộng đồng, bộ lạc. Nó bao gồm tất cả các thủ tục, tiêu chuẩn xã hội. Văn hóa là tổng hợp của niềm tin, tiêu chuẩn và thủ tục của cộng đồng (Wissler, 1929).
Văn hóa là tài nguyên và giá trị xã hội của bất cứ nhóm người nào, dù man rợ hay văn minh (tổ chức xã hội, phong tục, thái độ, phản ứng hành vi) (Thomas, 1937). Văn hóa là các nguyên tắc và những giá trị được thông báo công khai một cách rõ ràng theo đó cả nhóm cam kết tuân thủ (Deal và Kennedy, 1983). Văn hóa là các chính sách và nguyên tắc ý thức hệ tổng quát, định hướng hành động của một nhóm đối với cổ đông, các nhân viên khách hàng và các bên có lợi ích liên quan khác (Ouchi, 1981). Khái niệm văn hóa ở đây mang tính cộng đồng, văn hóa chính là những chuẩn mực, giá trị, quy tắc được thừa nhận.
Văn hóa là tổng hợp các kỹ thuật và phương pháp, tinh thần và đạo đức, bằng cách sử dụng nó cho người dân trong một thời gian nhất định để cố gắng đạt được mục đích (Small, 1905). Văn hóa ở đây được xem như một công cụ xử lý vấn đề. Trần Ngọc Thêm (1996) cho rằng văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Năm 2002, UNESCO đã đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Có thể thấy khái niệm văn hóa của UNESCO (2002) 9 bao hàm đầy đủ ý nghĩa nhất: văn hóa bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần, có tính kế thừa từ lịch sử, chủ thể là con người và các môi quan hệ, là những quy tắc, giá trị, quan điểm chung được xã hội thừa nhận.
Khái niệm văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó (Dương Thị Liễu, 2006). Văn hóa kinh doanh có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình văn hóa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội đó (Aoki, 1993). Thuật ngữ Văn hóa kinh doanh (VHKD) mới chỉ xuất hiện thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Trên thế giới tồn tại hai cách hiểu khác nhau về VHKD: Theo cách thứ nhất, người ta cho rằng, VHKD chính là VHDN.
Theo cách hiểu thứ hai, VHKD là một phạm trù ở tầm cỡ quốc gia, do đó VHDN chỉ là một thành phần trong VHKD. ở Việt Nam, quan niệm về VHKD và VHDN còn chưa rõ ràng, có nghiêng về nghĩa thứ hai hơn, có thể nói“ VHKD bao gồm những nguyên tắc điều chỉnh việc kinh doanh, việc ấn định ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và các ứng xử vô đạo đức, những quy tắc phải tuân theo trong các thoả thuận kinh doanh”. VHKD là các giá trị văn hoá thể hiện trong hình thức mẫu mã và chất lượng sản phẩm, trong thông tin quảng cáo về sản phẩm, trong cửa hàng bày bán sản phẩm, trong cách giao tiếp ứng xử của người bán đối với người mua, trong tâm lý và thị hiếu tiêu dùng, rộng ra là trong cả quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh với toàn bộ các khâu, các điều kiện liên quan của nó… nhằm tạo ra những chất lượng, hiệu quả kinh doanh nhất định. VHKD của một quốc gia được cấu thành bởi ba yếu tố là: văn hoá doanh nhân (trình độ, năng lực, đạo đức nghề nghiệp, phẩm hạnh làm ngừơi,… của những người tham gia sản xuất kinh doanh), văn hoá thương trường (tính chất của sự cạnh tranh, cơ cấu tổ chức, hệ thống pháp chế… liên quan đến môi trường kinh doanh 10 của một quốc gia) và văn hoá doanh nghiệp - bộ phận có vai trò, vị trí mang tính quyết định, là đầu mối trung tâm của quá trình xây dựng VHKD.
Khái niệm văn hóa tổ chức Khi đề cập đến văn hóa tổ chức thì không có một khái niệm nào hoàn toàn chính xác và phù hợp với tất cả các lĩnh vực, là một khái niệm thiếu sự chính xác và thống nhất. Có thể liệt kê một số khái niệm cơ bản về văn hóa tổ chức đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến. Văn hóa của một nhà máy là cách thức tư duy và hành động quen thuộc, thành nếp được các thành viên cố ý đặt ra để buộc các thành viên mới phải tuân theo hoặc ít nhất cũng phải chấp nhận chúng để sử dụng ở nơi làm việc (Jaques, 1952). Văn hóa của một tổ chức là chuẩn mực, giá trị, niềm tin, cách hành động đặc trưng của một nhóm người phối hợp với nhau khi làm một việc gì đó.
Tính đặc thù của một tổ chức có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử phát triển của tổ chức, từ những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành phong cách của tổ chức như những quyết định quan trọng trước kia, phong cách, quan điểm của những người lãnh đạo cũ. Chúng được thể hiện thông qua những phong tục, tập quán và quan niệm mà mỗi thành viên đều coi trọng, cũng như thông qua những quyết định chiến lược của mộ tổ chức (Eldridge và Crombie, 1972). Văn hóa tổ chức là sự đồng thuận về nhận thức của tất cả thành viên một nhóm. Những ý nghĩa này được mọi thành viên của một nhóm ngầm hiểu như nhau, nhưng rất rõ ràng và khác biệt so với các nhóm khác.
Những ý nghĩa này được truyền cho những người mới (Louis, 1980). Văn hóa tổ chức là một hệ thống có ý nghĩa được tổ chức chấp nhận (Pettigrew, 1979), văn hóa tổ chức là triết lý hoạt động của tổ chức (Ouchi, 1981). Văn hóa là niềm tin và kì vọng chung của tất cả mọi thành viên một tổ chức. Những niềm tin và kì vọng này hình thành những chuẩn mực đầy quyền uy trong việc định hình hành vi của cá nhân và tập thể trong tổ chức (Schwartz và Davis, 1981).
11 Văn hóa thể hiện trình độ nhận thức của một tổ chức – có nghĩa là chúng chứa đựng những phẩm chất đặc thù có thể sử dụng để phân biệt với các tổ chức khác về một phương diện nào đó (Gold, 1982). Văn hóa tổ chức là cốt lõi của các giả định, hiểu biết, và quy tắc ngầm định chi phối hành vi hằng ngày tại nơi làm việc (Deal và Kennedy, 1982). Văn hóa tổ chức là những giá trị được thừa nhận và sẽ chia (Wilkins, 1983) Văn hóa tổ chức là một hệ thống đánh giá và tập hợp các niềm tin giúp phân biệt các cách thức ứng xử khác nhau của tổ chức (Sapienza, 1985).ăn hóa tổ chức là một tập hợp các quan điểm, giá trị và Vniềm tin hướng dẫn hành vi của các thành viên của một tổ chức (Martin, 1985). Deal và Kennedy cho rằng văn hóa tổ chức là những gì có ý nghĩa, ví dụ như giá trị tổ chức (1983).Văn hóa tổ chức mô tả và giải thích hành động của mỗi cá nhân trong tổ chức, để năng suất có thể cải thiện (Alvesson và Berg, 1992).
Văn hóa tổ chức là kết quả từ kinh nghiệm của nhóm, và nó âm thầm ảnh hưởng một cách sâu sắt (Schein, 2004). Văn hóa tổ chức bao gồm những gì có giá trị, sự chi phối của phong cách lãnh đạo, ngôn ngữ và các ký hiệu, các quy trình và thói quen, các khái niệm về thành công đặc trưng cho tổ chức (Schein, 2004).