Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA DE TÀI 1. Khái quát về phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu điện ảnh UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua bao thé ky, nó đã cau thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống va lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khăng định bản sắc riêng của mình”. LH Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, văn hóa thường được chia đôi thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh than. Bên cạnh đó là những cách chia ba, ví dụ như văn hóa vật chất — văn hóa xã hội — văn hóa tinh thần; văn hóa vật chất — văn hóa tinh thần — văn hóa nghệ thuật; sinh hoạt kinh tế - sinh hoạt xã hội — sinh hoạt tri thức.
Cũng có thể chia văn hóa ra làm bốn thành tố: văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng, văn hóa nghệ thuật, hoặc hoạt động xã hội, hoạt động tinh thần, hoạt động nghệ thuật,. [21;1ó6] Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vuong trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam cũng đã chỉ ra rằng mỗi quan hệ giữa con người và văn hóa được bộc lộ ở ba khía cạnh quan trọng, đó là: con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của văn hóa; con người là sản phẩm của văn hóa; con người là đại biểu mang giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra. Con người có mối quan hệ hữu cơ với tự nhiên và xã hội, và trong những mối quan hệ ấy thì con người là chủ thể, là trung tâm. Nói một cách khái quát thì khi đề cập tới văn hóa thì trước hết phải nói tới con người.
[30;7] 16 Văn hóa một khi đã hình thành cũng là môi trường sống của con người. Nếu môi trường tự nhiên và môi trường xã hội là điều kiện dé hình thành và phát triển của môi trường văn hóa thì ngược lại môi trường văn hóa một khi đã xuất hiện thì góp phan rất lớn trong việc tạo ra thé ứng xử và lỗi ứng xử của con người trong việc không ngừng cải thiện môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường văn hóa quen thuộc của một cộng đồng người, bao giờ cũng gan với các truyền thống đã có ý nghĩa trường tồn của một cộng đồng ấy và với hệ thống các giá trị được toàn thé cộng đồng công nhận. [30;37-38] Theo bài viết Tiép cận văn học từ văn hóa của nhà báo Bùi Tùng Ảnh trên Thời báo Văn học Nghệ thuật (Arttimes), văn hóa cũng như các lĩnh vực xã hội khác hiện tại đang nổi cộm nhiều vấn đề.
Bước vào cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, con người có xu hướng mai miết chạy theo tăng trưởng kinh tế nên đôi khi xao nhãng văn hóa, môi trường và các lĩnh vực tỉnh thần khác. Nếu như kinh tế là tay ga thì văn hóa được ví như tay phanh, văn hóa là sự điều hòa xã hội ứng nghiệm. [1] Cuốn Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng dạy văn học của tác giả Trần Nho Thìn đã tập trung làm rõ vị trí, vai trò của văn hóa và đề xuất các phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng dạy văn học. Qua đó, con người được lay làm trung tâm, ta tiếp cận nội dung của các tác phẩm thông qua các mối quan hệ của con người với văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử với thiên nhiên, văn hóa ứng xử với thân thé, văn hóa ứng xử với cảm xúc, văn hóa ứng xử với cộng đồng.
Văn hóa phản ánh quan niệm của con người về giá trị; thể hiện cách con người hiểu “nghĩa” của các đối tượng và sự kiện xung quanh có liên quan đến bản thân. Văn hóa là các biểu tượng do con người xây dựng dé khái quát các quan niệm giá trị, các cách hiểu nghĩa đó. Nhưng không có cái gọi là nghĩa, là giá trị, là biểu tượng chung chung. Chúng chi có thé xuất hiện trong hoạt động 17 tư tưởng, trong các môi quan hệ cụ thé của con người: quan hệ giữa con người và thiên nhiên; quan hệ giữa con người và xã hội; quan hệ của con người với chính bản thân mình.
Tiếp cận văn hóa đối với văn học, mở rộng ra là điện ảnh là phương pháp tiếp cận nội dung dung văn bản thể hiện qua các mối quan hệ đó. Trong các mối quan hệ xã hội, luôn có sự lựa chọn về con người cá nhân hay con người cộng đồng. Đó là một van dé văn hóa quan trọng. Hình tượng con người trong văn học Việt Nam thiên về kiểu con người nào? Các đề tài, cảm hứng, nhân vật tiêu biểu, biểu tượng văn học liên quan đến hai kiểu con người nảy trong văn học đã được thể hiện ra sao? Sự vận động của kiểu con người đó diễn ra như thế nào? Những câu hỏi này cũng dẫn ta tìm về các quan niệm giá tri trong văn hóa.
Con người có quan hệ mật thiết với thiên nhiên. Văn hóa ứng xử với thiên nhiên chiếm một địa vị quan trọng trong văn hóa nhân loại. Hình tượng con người trong mối quan hệ với thiên nhiên và hình tượng thiên nhiên như là không gian tồn tại của con người được diễn tả như thé nào? Các hình tượng thiên nhiên trong văn học không đơn giản chỉ là kết quả phản ánh hiện thực mà còn mang quan niệm giá trị, thể hiện lý tưởng lựa chọn trong quan hệ tương tác giữa con người vả thiên nhiên. Con người là một động vật có lý trí, có những nguyên tắc văn hóa ứng xử với chính bản thân mình, với con người bản năng của mình.
Chuyên luận sẽ phân tích các quan nệm về giá trị của thân thể, của đời sống nội tâm, cảm xúc; các biểu tượng có quan hệ thê hiện qua sáng tác văn học. Bản năng thân xác (ví dụ, bản năng tham luyến vật chất và tính dục cũng như ham sống sợ chết) và bản năng cảm xúc (nhu cầu bộc lộ các loại cảm xúc) luôn là đối tượng quan sát, suy ngẫm và kiểm soát của con người trong văn học. Văn hóa là giá trị giúp con người vượt thoát tình trạng bản năng của chính mình để đạt đến “cõi người”, hiên nhiên, văn hóa có ảnh hưởng sâu sắc đên vân đê kiêm soát bản 18 năng. Nhưng nếu sự kiểm soát đây đến mức thái quá thì bản năng bị phủ nhận, con người không còn tồn tại là con người nữa ma trở thành phạm trù thánh nhân lý tưởng hóa.
Văn hóa tôn trọng con người bản năng trong một phạm vi có thé sẽ thúc đây sự xuất hiện của con người trần tục, con người hiện thực đa chiều.[30-31;20] Lớp cốt lõi của văn hóa là giá trị. Giá trị là những xu hướng rất rộng đề cao một trạng thái công việc này hơn một trạng thái khác. Theo cấu trúc luận, giá tri là sự lJwa chọn giữa xấu/ tốt, ban/ sạch, nguy hiém/ an toàn, cắm/ cho phép, đạo đức/ vô đạo đức, lich sự/ bat lịch sự, xấu/ đẹp, logic/ phi logic, phi ly/ duy lý,. Gia tri và quan niệm về giá trị là sự kết tinh, sự lựa chọn của kinh nghiệm sông, hoạt động thực tiễn của một cộng đồng.
Gia tri và quan niệm về giá tri là sự kết tinh, sự lựa chọn của kinh nghiệm sống, hoạt động thực tiễn của một cộng đồng. Giá trị thay đổi theo không gian va thời gian. [19;20] Từ đề xuất tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng day văn học của tac giả Trần Nho Thìn, chúng tôi xây dựng khung phương pháp tiếp cận hai tác phẩm điện ảnh trong luận văn, bao gồm việc phân tích không gian nông thôn và không gian thành thị, bức tranh sinh hoạt của con người trong văn hoá Nam Bộ; phân tích con người trong các mối quan hệ với cộng đồng (gia đình, hàng xóm láng giéng, các thiết chế quyền lực), với chính mình (hai phương diện thé xác và cảm xúc tinh than); các kí hiệu văn hoá từ thiên nhiên và đời sống xã hội. Sự trình hiện vùng văn hoá Nam Bộ trong điện ảnh Việt Nam đương đại Vùng văn hoá Nam Bộ có nhiều đặc điểm khác biệt về môi trường tự nhiên xã hội và văn hóa so với nhiều vùng khác ở Việt Nam (như Tây Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên), Trần Quốc Vượng trong giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam đã chỉ ra những đặc điểm nỗi bật cơ bản như sau: 19 Về vị trí địa lý, Nam Bộ là vùng đất nằm cuối cùng đất nước về phía Nam, trọn vẹn trong lưu vực của hai sông: sông Đồng Nai và sông Cửu Long, mà lại là phần hạ lưu của hai dòng sông.
Trong khi đó, Nam Bộ lại gần Biển Đông. Nói khác đi, đây là vùng dat cửa sông giáp biển. [30;283] Về khí hậu, Nam Bộ khác hăn khí hậu Bắc Bộ ở chỗ Nam Bộ chỉ có hai mùa trong năm: mùa mưa và mùa khô. Sáu thang mùa mưa, sáu tháng mùa khô, tạo cho vòng quay thiên nhiên, mùa vụ có phần khác biệt với đồng bằng Bắc Bộ.
Nói tới Nam Bộ là người ta nghĩ đến một cánh đồng tít tắp tận chân trời, một khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt và vùng đất chằng chịt kênh rạch. [30;283] Về môi trường xã hội, làng Việt Nam Bộ có những nét khu biệt, khi đặt trong tương quan với làng Việt Bắc Bộ. Có thể thấy một cách sơ khởi những nét đặc thù ay như sau: Trước hết, tuổi đời làng Việt Bắc Bộ còn ngắn, chừng 400 năm là cùng. Khác với làng Việt Bắc Bộ vốn có gốc gác là các công xã nông thôn, làng Việt Nam Bộ là làng khai phá.
Dân cư từ nhiều nguồn, nhiều phương trời tụ họp lại, vì thế làng Việt Nam Bộ sẽ không có chất kết dính chặt chẽ, quan hệ dòng họ sẽ khác với chính nó ở đồng bang Bắc Bộ. Mat khác, sự cư trú cua cư dân Nam Bộ không thành một đơn vi biệt lập với rang tre quanh làng như đồng bang Bắc Bộ, mà cư trú theo tuyến, theo kiểu tỏa tia, dọc hai bên bờ kênh rạch, trục lộ giao thông. [30;286] Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam cũng đưa ra kết luận rang cộng đồng chủ thé văn hóa tổn tại trong quan hệ với hai loại môi trường — môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu,.) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia khác).