Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số: 922.04) của nghiên cứu sinh Lê Thị Hồng Dung, được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn và PGS.TS. Dương Tuấn Anh, mang tiêu đề: "Nghiên cứu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu bảo tồn, phát huy vốn di sản văn hóa thành văn Hán Nôm, cụ thể là việc minh giải văn bản nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa tác phẩm và chủ đích biên soạn của tiền nhân. Trong lịch sử khoa cử và giáo dục phong kiến Việt Nam, Tứ thư và Ngũ kinh đóng vai trò là sách giáo khoa tiêu chuẩn cho sĩ tử; trong đó, sách Mạnh Tử giữ vị trí căn bản đối với việc tu dưỡng luân lý và rèn luyện kỹ năng cử nghiệp. Các nhà Nho Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử đã tích cực biên soạn, chú giải, sắp xếp lại kinh điển để phục vụ nhu cầu học tập hoặc thể nghiệm sở học cá nhân. Mặc dù số lượng thư tịch bàn luận về Tứ thư tại các thư viện trong nước và quốc tế rất phong phú, khoảng trống nghiên cứu đặt ra là trước luận án này, giới học thuật chưa có công trình nào khảo cứu một cách chuyên biệt, đầy đủ và có hệ thống về các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam dưới góc độ văn bản học và thuyên thích học.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:
- Tiến hành khảo sát, thống kê và phân loại các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam theo tiêu chí thư mục học và tiến trình lịch sử.
- Lý giải các phương thức, thủ pháp thuyên thích của các nhà Nho Việt Nam trong việc tiếp nhận, chuyển hóa và tái cấu trúc kinh điển sách Mạnh Tử.
- Đánh giá đặc điểm văn bản học và giá trị học thuật của từng văn bản đối với sĩ tử đương thời cũng như đối với nền văn hiến Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn tại Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Luận án tập trung khảo sát chuyên sâu 5 văn bản nòng cốt: Tứ thư ước giải, Tứ thư tiết yếu, Tiểu học Tứ thư tiết lược, Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa và Trâu thư trích lục.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại các trung tâm lưu trữ văn bản Hán Nôm ở Việt Nam (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tại Đà Lạt); thời gian khảo sát kéo dài từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX; giới hạn nội dung tập trung vào các trước tác do tác giả Việt Nam biên soạn bằng chữ Hán và chữ Nôm, không nghiên cứu các bản dịch chữ Quốc ngữ và các văn bản chỉ đơn thuần sao chép hoặc khắc in lại nguyên văn sách Mạnh Tử của Trung Quốc mà không có sự thuyên thích của học giả Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trên hai bình diện không gian: quốc tế (chủ yếu là Trung Quốc) và Việt Nam.
Tại Trung Quốc, nghiên cứu thuyên thích sách Mạnh Tử có lịch sử lâu dài. Thời cổ trung đại, các công trình chú sớ đạt quy mô tập đại thành với sự chuyển biến phương pháp từ chương cú huấn hỗ sang thông diễn nghĩa lý ở thời Nam Tống qua Tứ thư tập chú của Chu Hy. Thời cận hiện đại xuất hiện các công trình của Khang Hữu Vi (Mạnh Tử vi), Tiền Mục (Nghiên cứu Mạnh Tử / Mạnh Tử yếu lược), và bản dịch chú phổ biến của Dương Bá Tuấn (Mạnh Tử dịch chú, 1960). Từ thập niên 1990 trở đi, học giới đương đại ghi nhận nhiều công trình chuyên sâu như của Hoàng Tuấn Kiệt (Mạnh Tử tư tưởng sử luận, Trung Quốc Mạnh học thuyên thích sử luận), Lý Khải (Nghiên cứu tư tưởng thuyên thích Mạnh Tử), Lý Minh Huy (Nho gia và Kant, Cách nhìn mới về đạo đức Mạnh Tử và luân lý học của Kant, Khám phá lại Mạnh Tử), Tín Quảng Lai (Mạnh Tử và tư tưởng Trung Quốc thời kỳ đầu, 1997), Dương Trạch Ba (Nghiên cứu luận thuyết về tính thiện của Mạnh Tử). Hoàng Tuấn Kiệt tổng kết hai hướng tiếp cận chính trong thế kỷ XX: hướng tiếp cận nội tại (triết học, phân tích khái niệm nhân, nghĩa, lễ, trí, tâm, thuyết tính thiện, tri ngôn dưỡng khí) và hướng tiếp cận ngoại tại (lịch sử tư tưởng, bối cảnh hóa chính trị - văn hóa như bối cảnh thời Chiến Quốc hay các tranh biện thời Bắc Tống về thuyết không đồng nhất vương - bá của Mạnh Tử).
Tại Việt Nam, các công trình liên quan được tác giả phân chia thành bốn nhóm:
- Nhóm thư mục học: Các công trình tổng kê của Trịnh Khắc Mạnh (Thư tịch Hán Nôm Việt Nam luận giải về Tứ thư và Ngũ kinh hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ghi nhận 122 tác phẩm Hán Nôm), Nguyễn Xuân Diện, Đỗ Thị Bích Tuyển, Nguyễn Thúy Nga, và cuốn Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu. Các công trình này mới dừng ở mức thống kê Tứ thư và Ngũ kinh nói chung.
- Nhóm bản dịch chữ Quốc ngữ: Các công trình dịch và phổ biến của Phạm Đình Đạt, Dương Hồng, Hoàng Văn Thụ, Đoàn Trung Còn, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Lê Đình Giao, Bửu Tư... Nhóm này phản ánh nhu cầu hiện đại hóa nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu văn bản cổ của luận án.
- Nhóm chuyên luận, bài báo học thuật: Ghi nhận lịch sử thuyên thích từ thời Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, đã thất truyền), Hồ Quý Ly (Minh đạo, đã thất truyền), đến Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú, Phạm Quí Thích. Gần đây có các nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn về hoạt động diễn dịch Hán Nôm kinh điển Nho gia; Nguyễn Tuấn Cường về Tứ thư ước giải và diên cách Chu Tử học; Phạm Văn Ánh về thái độ của Nguyễn Văn Siêu đối với Chu Hy; Nguyễn Phúc Anh về hệ thống Tứ thư Ngũ kinh đại toàn; Phạm Văn Thắm về Nho tạng Việt Nam; Quách Thu Hiền về trào lưu toản yếu, tiết yếu kinh điển thế kỷ XVIII.
- Nhóm luận văn, luận án: Một số đề tài thạc sĩ khảo sát từng phân đoạn hẹp như khóa luận của Nguyễn Thị Anh Thư (khảo sát bản dịch Nôm thiên Tận tâm trong Tứ thư ước giải), luận văn của Phạm Bảo Nhung (khảo sát phương pháp tiết lược phần Đại học và Luận ngữ trong Tiểu học Tứ thư tiết lược), hay nghiên cứu thạc sĩ trước đó của chính tác giả Lê Thị Hồng Dung về Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình đi trước chủ yếu khảo sát diện rộng toàn bộ Tứ thư hoặc khảo sát cục bộ một vài thiên, chương riêng lẻ; chưa có một công trình nào tập hợp đầy đủ, phân loại khoa học và đánh giá phương thức thuyên thích chuyên sâu đối với riêng sách Mạnh Tử trong nguồn thư tịch Hán Nôm giai đoạn từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết của bộ môn thuyên thích học (hermeneutics, hay thông diễn học, giải thích học). Tác giả khảo sát từ nguyên chữ "thuyên" (詮) trong tự điển Khang Hy, Từ Nguyên, Từ Hải và từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Thiều Chửu với nét nghĩa: giải thích tường tận, đầy đủ, rõ ràng; và chữ "thích" (釋): giải nghĩa, mở rõ nghĩa sách. Luận án tiếp thu các nghiên cứu lý thuyết của Thẩm Thanh Tòng, Trần Văn Đoàn (Thông diễn học và khoa học xã hội nhân văn), Phan Đức Vinh (4 nguyên tắc: tính tự chủ, tính chỉnh thể, tính hiện thực trong lý giải, sự hài hòa ý nghĩa), Hoàng Tuấn Kiệt (Nho học Đông Á: biện chứng của kinh điển và luận giải).
Về phương pháp luận giải thích kinh điển, luận án khu biệt:
- Mô hình giải thích cổ điển Trung Quốc: Phương pháp luận kinh học cổ văn thời Hán của Trịnh Huyền (kết hợp thanh huấn, hình huấn, nghĩa huấn, dựa trên quan niệm "toàn kinh", "toàn nghĩa" để tìm "nguyên ý") và các hình thái giải thích học thuật (dẫn thích trong văn, giải thuyết chuyên thiên, truyền thuật chuyên thư).
- Mô hình giải thích hiện đại: Tiêu biểu là quan điểm "chỉnh lý quốc cố" theo tinh thần thực nghiệm lịch sử của Hồ Thích thông qua 3 phương pháp (phương pháp lịch sử gồm 4 bước, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên sử).
Luận án kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu thực tế thuộc chuyên ngành Hán Nôm:
- Phương pháp thư mục học: Sử dụng để khảo sát, lập danh mục, thống kê và phân loại các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam theo văn tự, hình thức biên soạn và phạm vi thuyên thích.
- Phương pháp văn bản học: Dùng để mô tả diện mạo vật lý, xác định tác giả, niên đại, khảo sát dị bản, cấu trúc mục lục và bố cục nội dung của văn bản.
- Phương pháp thuyên thích học: Vận dụng để phân tích mục đích biên soạn, dụng ý học thuật của tác giả khi thực hiện các thao tác tóm lược, tái cấu trúc hoặc bình giải văn bản.
- Phương pháp phiên dịch học: Áp dụng trong xử lý văn bản, dịch nghĩa văn ngôn chữ Hán và phiên dịch các văn bản chữ Nôm làm ngữ liệu chứng minh.
Bên cạnh đó, các thao tác thống kê, đối chiếu văn bản (so sánh câu chữ kinh văn gốc với bản biên soạn của nhà Nho Việt Nam) được vận dụng xuyên suốt.
Nguồn tư liệu thực tế bao gồm 21 văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử được tiếp cận trực tiếp tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (17 văn bản), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tại Đà Lạt (3 văn bản) và Thư viện Quốc gia Việt Nam (1 văn bản).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuyên thích học và tình hình nghiên cứu kinh điển Mạnh Tử. Tác giả trình bày lịch sử hình thành thuật ngữ thuyên thích học từ phương Tây sang văn hóa Hán ngữ, đối chiếu quan niệm giải thích kinh điển cổ điển với lý luận thông diễn hiện đại. Về tình hình nghiên cứu, chương này phân tích các khuynh hướng học thuật tại Trung Quốc (các công trình chú giải cổ điển, sự chuyển hướng nghĩa lý thời Tống, và các trường phái nghiên cứu nội tại - ngoại tại thế kỷ XX) và tổng lược lịch sử chú giải Tứ thư tại Việt Nam từ thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XX. Tiểu kết chương xác định các hướng nghiên cứu chưa được khai thác, đặt tiền đề cho việc khảo sát trực tiếp văn bản ở các chương sau.
Chương 2: Tình trạng các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX
Chương này thực hiện việc kiểm kê, thống kê thư mục học và giám định văn bản học đối với 21 văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử còn lưu giữ tại Việt Nam.
| STT |
Tên sách |
Ký hiệu |
Tác giả / Người hiệu đính |
Năm khắc in / biên chép |
Số trang / tờ |
Văn tự |
Nơi lưu trữ |
| 1 |
Tứ thư đoản thiên |
A.1794, A.1429 |
Tiêu Hán Tân |
1838 (Minh Mệnh 19) |
150 trang (A.1429) |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 2 |
Tứ thư ước giải |
AB.314 |
Lê Quý Đôn hiệu đính |
1839 (Minh Mệnh 20) |
859 trang |
Hán - Nôm |
Viện NC Hán Nôm |
| 3 |
Tứ thư sách lược |
VHv.391/1-2 |
Không rõ |
Bản chép tay |
412 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 4 |
Tứ thư tiết yếu |
AC.226/1-4 |
Bùi Huy Bích |
1895 (Thành Thái 7) |
1300 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 5 |
Tứ thư tinh nghĩa |
VHv.443, VHv.444, VHv.601/3-5 |
Không rõ |
Bản chép tay |
VHv.443 (186 tr), VHv.444 (203 tr), VHv.601 (664 tr) |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 6 |
Tứ truyện nghĩa tuyển // Tứ truyện tinh nghĩa |
VHv.601/6, VHv.1151 |
Không rõ |
Bản chép tay |
VHv.601/6 (186 tr), VHv.1151 (98 tr) |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 7 |
Tiểu học Tứ thư tiết lược |
A.2944 |
Đoàn Triển |
Bản chép tay |
168 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 8 |
Luận Mạnh sách đoạn |
VHv.902 |
Không rõ |
Bản chép tay |
158 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 9 |
Luận thuyết tập |
A.2856 |
Không rõ |
Bản chép tay |
82 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 10 |
Dịch học khải mông |
VHv.1014 |
Không rõ |
Bản chép tay |
128 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 11 |
Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa |
AB.358 |
Ngô Giáp Đậu |
1913 (Duy Tân Quý Sửu) |
358 trang |
Hán - Nôm |
Viện NC Hán Nôm |
| 12 |
Lữ trung tạp thuyết |
A.151, VHv.1804 |
Bùi Huy Bích |
Bản chép năm 1857 (Tự Đức 10) |
A.151 (150 tr), VHv.1804 (164 tr) |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 13 |
Lịch triều sử ký văn tuyển |
A.121 |
Lê Đức Hiên, Lê Đình Diên |
Bản chép tay |
560 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 14 |
Tiểu học cú đậu |
VHv.1015 |
Trần Tuyển tuyển chú |
1847-1883 |
144 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 15 |
Trâu thư trích lục |
A.1142 |
Hồ Đắc Khải biên tập, Nguyễn Duy Tích tựa |
1915 (Duy Tân Ất Mão) |
97 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 16 |
Đại học tích nghĩa |
A.2594 |
Lê Văn Ngữ |
1927 |
116 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 17 |
Đế vương bảo giám |
Không rõ số |
Trần Duy Vôn biên tập, Nguyễn Thanh Tùng chép |
1931 (Bảo Đại 6) |
174 trang |
Chữ Hán |
Viện NC Hán Nôm |
| 18 |
Mạnh Tử tân ước |
H73 |
Không rõ |
Bản khắc mộc bản (in lại 2012) |
132 tờ |
Chữ Hán |
TTLT Quốc gia IV |
| 19 |
Trâu thư trích lục |
H3 |
Không rõ |
Bản mộc bản |
29 tờ |
Chữ Hán |
TTLT Quốc gia IV |
| 20 |
Tứ thư nhân vật bị khảo |
H134 |
Không rõ |
Bản mộc bản |
2 tờ |
Chữ Hán |
TTLT Quốc gia IV |
| 21 |
Mạnh Tử tiết yếu |
R180 |
Không rõ |
Bản chép tay |
150 trang |
Chữ Hán |
Thư viện Quốc gia |
Luận án chỉ ra các đặc điểm thư mục học:
- Tỷ lệ văn tự: Chỉ có 2/17 văn bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có sử dụng chữ Nôm (Tứ thư ước giải và Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa), cho thấy chữ Nôm không phải là phương tiện phổ biến trong việc thông diễn kinh điển Mạnh Tử.
- Tỷ lệ văn bản độc lập: Chỉ có 2 trước tác thuyên thích chuyên biệt riêng về sách Mạnh Tử (Trâu thư trích lục và Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa); phần lớn các văn bản còn lại thuyên thích sách Mạnh Tử trong chỉnh thể Tứ thư hoặc chỉ trích dẫn từng câu, từng đoạn phục vụ thi cử (Tứ thư sách lược, Tứ thư đoản thiên, Tứ thư tinh nghĩa).
- Không có tác phẩm nào biên soạn theo hình thức diễn ca (khác với sách Trung dung có nhiều bản diễn ca), nguyên nhân do quy mô dung lượng sách Mạnh Tử quá lớn.
- Khảo cứu văn bản học chi tiết 5 văn bản nòng cốt: Tứ thư ước giải (do Lê Quý Đôn hiệu đính, bản in năm Minh Mệnh 20/1839 của hiệu Ức Văn Đường), Tứ thư tiết yếu (Bùi Huy Bích biên soạn, bản in năm Thành Thái 7/1895), Tiểu học Tứ thư tiết lược (Đoàn Triển), Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa (Ngô Giáp Đậu biên soạn năm 1913), và Trâu thư trích lục (Hồ Đắc Khải biên tập năm 1915).
Chương 3: Nghiên cứu nhóm văn bản thuyên thích phần chính văn sách Mạnh Tử ở Việt Nam
Chương 3 phân tích các thủ pháp xử lý phần kinh văn nguyên tác của các nhà Nho Việt Nam:
- Tóm lược chính văn: Các tác giả lược bỏ các câu văn trùng lặp, các đoạn hội thoại mang tính đệm, các chi tiết lịch sử phụ để làm nổi bật luận điểm đạo đức, chính trị. Chẳng hạn trong Mạnh Tử tiết yếu (AC.226) và Tiểu học Tứ thư tiết lược, số lượng câu kinh văn bị lược bỏ so với bản Mạnh Tử tập chú của Chu Hy được tác giả lập bảng thống kê cụ thể.
- Tái cấu trúc chính văn: Đây là thủ pháp thể hiện tính chủ động học thuật cao. Tác giả khảo sát cách thức sắp xếp lại toàn bộ trật tự các thiên chương trong Tiểu học Tứ thư tiết lược, Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa và Trâu thư trích lục. Các văn bản này phá vỡ kết cấu biên niên đối thoại truyền thống (từ thiên Lương Huệ Vương đến Tận tâm) để tái lập thành các chủ đề giáo khoa phù hợp với chương trình cải lương giáo dục đầu thế kỷ XX (1906-1913).
- Phiên dịch chính văn sang chữ Nôm: Phân tích kỹ thuật trực dịch trong Tứ thư ước giải, ghi nhận hệ thống từ vựng Nôm cổ mang dấu ấn ngôn ngữ thế kỷ XVII-XVIII (sử dụng dày đặc các từ cổ như chưng, ru, vạy, thửa, bui).
Chương 4: Nghiên cứu nhóm văn bản thuyên thích phần chú thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam
Chương 4 khảo cứu các phương diện chú giải kinh điển:
- Nguồn gốc văn bản chú giải: Đối chiếu hệ thống chú giải trong cả 5 văn bản nòng cốt với Tứ thư tập chú của Chu Hy. Kết quả chỉ ra các tác giả Việt Nam chủ yếu dựa vào hệ thống giải thích của Tống Nho (Chu Hy), nhưng có sự chọn lọc lược giản, cắt bỏ các phần biện luận rườm rà, giữ lại các định nghĩa khái niệm cốt lõi.
- Ngôn ngữ văn bản chú giải: Khảo sát việc sử dụng chữ Hán văn ngôn kết hợp với phần diễn dịch chữ Nôm. Phân tích các trường hợp sử dụng văn ngôn trong Tứ thư ước giải và các thuật ngữ Hán được chuyển dịch sang tiếng bản địa.
- Nội dung chú giải: Luận án phân tách thành hai mạch nội dung chính:
- Nội dung kinh học: Tập trung minh giải các phạm trù đạo đức Nho gia cốt lõi như nhân nghĩa, tính thiện, vương đạo, bảo dân, chính danh, tu thân dưỡng tính.
- Nội dung lịch sử: Chú giải tên người, địa danh, chế độ chính trị thời Xuân Thu - Chiến Quốc, giúp người đọc nắm bắt được bối cảnh thực tế của các cuộc đối thoại giữa Mạnh Tử và chư hầu.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
- Về nguồn tư liệu: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tiến hành khảo sát, thống kê và mô tả có hệ thống 21 văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, làm rõ các thông số thư mục học (tác giả, niên đại, văn tự, số trang, tình trạng văn bản).
- Về phương diện lý luận: Vận dụng lý thuyết thuyên thích học kết hợp phương pháp văn bản học Hán Nôm để phân loại và làm sáng tỏ 4 phương thức thuyên thích của nhà Nho Việt Nam đối với sách Mạnh Tử: tóm lược chính văn, tái cấu trúc chính văn, chú giải nội dung kinh học - lịch sử, và dịch Nôm chính văn.
- Về ý nghĩa thực tiễn: Làm sáng tỏ quá trình tiếp nhận và biến đổi của Mạnh Tử học tại Việt Nam; chứng minh tính chủ động và dấu ấn cá nhân của các nhà Nho Việt Nam (như Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Đoàn Triển, Ngô Giáp Đậu, Hồ Đắc Khải) trong việc biên soạn kinh điển phục vụ nhu cầu khoa cử và đặc biệt là sự chuyển dịch sang mô hình giáo khoa tân học giai đoạn 1906-1915.
- Đề xuất, kiến nghị: Đề xuất tiếp tục bảo tồn, số hóa các văn bản Hán Nôm quý hiếm về kinh điển Tứ thư; khuyến nghị mở rộng việc áp dụng lý thuyết thuyên thích học trong nghiên cứu các trước tác Nho tạng Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do phạm vi giới hạn của đề tài Hán Nôm, luận án chưa khảo sát các bản dịch sách Mạnh Tử sang chữ Quốc ngữ xuất bản từ đầu thế kỷ XX đến nay; chưa tiếp cận trực tiếp được các bản chép tay lưu lạc tại các thư viện quốc tế (như Paris, Tokyo) hoặc trong các bộ sưu tập tư gia; một số văn bản hiện còn bị rách nát, nhòe mực (như bản Tứ thư dẫn giải AC.562, mộc bản H134 tại Đà Lạt chỉ còn 2 tờ) gây khó khăn cho việc khảo sát nguyên vẹn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát các văn bản giải nghĩa kinh điển Tứ thư ở các kho lưu trữ nước ngoài; nghiên cứu giai đoạn chuyển tiếp từ văn bản Hán Nôm sang văn bản chữ Quốc ngữ của sách Mạnh Tử; thực hiện các nghiên cứu đối sánh Mạnh Tử học Việt Nam với Mạnh Tử học tại Triều Tiên và Nhật Bản trong không gian Nho học Đông Á.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Hán Nôm, Triết học phương Đông, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, và Văn học trung đại.
- Các chuyên viên thư viện, cán bộ lưu trữ trong việc định danh, phân loại và bảo tồn các tài liệu Hán Nôm thuộc mảng Tứ thư - Ngũ kinh.
- Phần đáng tham khảo nhất: Bảng thống kê thư mục chi tiết 21 văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử (Chương 2); các bảng thống kê câu kinh văn bị lược bỏ trong Mạnh Tử tiết yếu và Tiểu học Tứ thư tiết lược so với Tứ thư tập chú của Chu Hy (Chương 3); và hệ thống ngữ liệu phân tích từ Nôm cổ trong bản dịch Tứ thư ước giải (Chương 3 và Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát tổng cộng bao nhiêu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử và hiện được lưu trữ ở những đâu?
Luận án thống kê được 21 văn bản có nội dung thuyên thích sách Mạnh Tử, trong đó có 17 văn bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội), 3 văn bản lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt), và 1 văn bản lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (Hà Nội).
2. Năm văn bản nòng cốt được luận án lựa chọn nghiên cứu chuyên sâu là những văn bản nào?
Năm văn bản nòng cốt bao gồm: Tứ thư ước giải (TTƯG, Lê Quý Đôn hiệu đính), Tứ thư tiết yếu (TTTY, Bùi Huy Bích soạn), Tiểu học Tứ thư tiết lược (THTTTL, Đoàn Triển soạn), Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa (SMHBCT, Ngô Giáp Đậu soạn), và Trâu thư trích lục (TTTL, Hồ Đắc Khải biên tập).
3. Chữ Nôm có mức độ xuất hiện như thế nào trong các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử?
Chữ Nôm chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Trong 17 văn bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chỉ có 2 văn bản có xuất hiện chữ Nôm là Tứ thư ước giải và Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa. Điều này cho thấy chữ Nôm không phải là phương tiện diễn giải phổ biến đối với sách Mạnh Tử trong nguồn thư tịch truyền thống.
4. Thủ pháp "tái cấu trúc chính văn" được thể hiện như thế nào trong các văn bản đầu thế kỷ XX?
Trong các văn bản như Tiểu học Tứ thư tiết lược (Đoàn Triển), Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa (Ngô Giáp Đậu) và Trâu thư trích lục (Hồ Đắc Khải), các tác giả đã không giữ nguyên trật tự 7 thiên truyền thống của sách Mạnh Tử mà chia nhỏ, gom nhóm và sắp xếp lại các đoạn kinh văn theo từng chủ đề luân lý, đạo đức, chính trị nhằm biên soạn thành các bài học giáo khoa phục vụ phong trào cải lương giáo dục khoa cử (1906-1915).
5. Quan hệ giữa hệ thống chú giải của nhà Nho Việt Nam với Tứ thư tập chú của Chu Hy là gì?
Các nhà Nho Việt Nam tiếp thu căn bản hệ thống chú giải của Chu Hy thời Tống, nhưng không sao chép nguyên xi mà chủ động tóm lược, lược bỏ những đoạn bàn luận học thuật chi ly, chỉ giữ lại các định nghĩa khái niệm và chú thích lịch sử thiết yếu nhằm phục vụ trực tiếp cho việc ôn luyện cử nghiệp và giảng dạy.
Kết luận
Luận án "Nghiên cứu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX" của Lê Thị Hồng Dung là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Hán Nôm, xử lý có hệ thống nguồn thư tịch kinh điển Nho gia bản địa. Bằng việc kết hợp phương pháp thư mục học, văn bản học và lý thuyết thuyên thích học, luận án đã thống kê 21 văn bản, phân tích sâu 5 tác phẩm đại diện, làm rõ các thủ pháp tóm lược, tái cấu trúc, chú giải và dịch Nôm chính văn của các nhà Nho Việt Nam. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ diện mạo, đặc điểm văn bản học và tiến trình bản địa hóa kinh điển Mạnh Tử trong đời sống học thuật, khoa cử và giáo dục Việt Nam suốt hai thế kỷ.