Vai trò siêu âm tim đánh dấu mô cơ tim trong chẩn đoán bệnh cơ tim do hoá trị ung thư vú ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch

Nghiên cứu vai trò của siêu âm tim đánh dấu mô cơ tim trong chẩn đoán sớm bệnh cơ tim do hóa trị ung thư vú ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch.

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Y học

2024

211
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1. Bệnh cơ tim do hóa trị

3.1.1. Tổng quan bệnh cơ tim do hóa trị

3.1.2. Tần suất và đặc điểm bệnh cơ tim do hóa trị anthracycline và trastuzumab

3.1.3. Anthracycline

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 Bản thu thập số liệu nghiên cứu

PHỤ LỤC 2 Chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học

PHỤ LỤC 3 Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư vú – Bộ Y tế

PHỤ LỤC 4 Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim cấp và mạn - Bộ Y tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Vai Trò Siêu Âm Đánh Dấu Mô Cơ Tim Ung Thư Vú 55 ký tự

Bệnh tim mạch và ung thư là hai nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu. Số liệu GLOBOCAN 2020 cho thấy, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 1 trong 8 người bệnh. Các bệnh lý tim mạch chiếm 10% nguyên nhân tử vong ở bệnh nhân ung thư, thậm chí cao hơn so với tử vong do ung thư ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm. Điều trị ung thư, đặc biệt là hóa trị, có thể gây tác động bất lợi lên tim mạch, trong đó bệnh cơ tim do hóa trị là phổ biến nhất. Các thuốc như anthracycline và trastuzumab có liên quan đến bệnh cơ tim thông qua các cơ chế tổn thương khác nhau. Các yếu tố nguy cơ tim mạch nền tảng cũng làm tăng nguy cơ này. Vì vậy việc chẩn đoán bệnh cơ tim sớm là cực kỳ quan trọng.

1.1. Mối liên hệ giữa ung thư vú hóa trị và tim mạch

Ung thư vú và các bệnh tim mạch có mối liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một vòng xoắn bệnh lý phức tạp. Hóa trị, mặc dù cần thiết để điều trị ung thư vú, có thể gây ra những tác động tiêu cực lên hệ tim mạch. Trong đó, các thuốc như Anthracycline và Trastuzumab gây ra độc tính trực tiếp lên cơ tim, dẫn đến suy giảm chức năng tim và tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

1.2. Tại sao siêu âm đánh dấu mô cơ tim lại quan trọng

Siêu âm đánh dấu mô cơ tim (Strain) là một kỹ thuật tiên tiến cho phép đánh giá chức năng tim một cách chi tiết và nhạy bén hơn so với các phương pháp siêu âm truyền thống. Kỹ thuật này giúp phát hiện sớm những tổn thương nhỏ nhất ở cơ tim, ngay cả khi chức năng tim tổng thể vẫn còn bình thường. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hóa trị ung thư vú, nơi phát hiện sớm bệnh cơ tim có thể cải thiện đáng kể tiên lượng.

II. Thách Thức Phát Hiện Sớm Bệnh Cơ Tim Do Hóa Trị Khó Khăn 59 ký tự

Chẩn đoán tổn thương cơ tim dựa trên giảm phân suất tống máu thất trái (LVEF) thường được thực hiện ở giai đoạn muộn. Điều này hạn chế khả năng hồi phục của cơ tim. Các hướng dẫn hiện tại khuyến cáo sử dụng LV-GLS (sức căng theo chiều dọc thất trái) qua siêu âm đánh dấu mô cơ tim để dự báo sớm bệnh cơ tim do hóa trị. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện và mức độ nặng bệnh cơ tim dựa trên thay đổi LV-GLS chưa được kiểm định tiến cứu ở các phân tầng nguy cơ HFA-ICOS, đặc biệt ở bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch.

2.1. Hạn chế của phương pháp chẩn đoán LVEF truyền thống

Phương pháp đánh giá chức năng tim dựa trên LVEF (phân suất tống máu thất trái) đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều năm. Tuy nhiên, LVEF có một số hạn chế nhất định. Chỉ số này có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau và thường chỉ thay đổi khi tổn thương cơ tim đã tiến triển đến một mức độ nhất định. Điều này có nghĩa là LVEF có thể không đủ nhạy để phát hiện sớm bệnh cơ tim do hóa trị.

2.2. Vấn đề phân tầng nguy cơ HFA ICOS ở bệnh nhân ung thư vú

Thang điểm HFA-ICOS được sử dụng để phân tầng nguy cơ rối loạn chức năng tim ở bệnh nhân trước khi bắt đầu hóa trị. Tuy nhiên, hiệu quả của thang điểm này trong việc dự đoán bệnh cơ tim do hóa trị, đặc biệt là ở bệnh nhân ung thư vú có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, vẫn còn cần được nghiên cứu thêm. Việc thiếu dữ liệu cụ thể cho nhóm bệnh nhân này gây khó khăn trong việc đưa ra các quyết định lâm sàng chính xác.

2.3. Thiếu dữ liệu dài hạn và nghiên cứu tiến cứu về LV GLS

Mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy LV-GLS là một chỉ số nhạy hơn so với LVEF trong việc phát hiện bệnh cơ tim, nhưng vẫn còn thiếu các nghiên cứu dài hạn và tiến cứu để đánh giá đầy đủ giá trị của chỉ số này. Đặc biệt, cần có thêm các nghiên cứu để xác định thời điểm và tần suất theo dõi LV-GLS tối ưu cho bệnh nhân ung thư vú đang điều trị hóa trị.

III. Giải Pháp Siêu Âm Đánh Dấu Mô Cơ Tim Chẩn Đoán Sớm 58 ký tự

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá động học của LVEF và LV-GLS trong quá trình hóa trị và 12 tháng sau đó ở bệnh nhân ung thư vú có yếu tố nguy cơ tim mạch. Mục tiêu là xác định tần suất, mức độ nặng và thời điểm xuất hiện bệnh cơ tim do hóa trị anthracycline hoặc trastuzumab. Nghiên cứu cũng nhằm xác định giá trị dự báo của LV-GLS trong việc phát hiện bệnh cơ tim mức độ trung bình không triệu chứng.

3.1. Động học của LVEF và LV GLS trong quá trình hóa trị

Nghiên cứu theo dõi sự thay đổi của LVEF và LV-GLS ở bệnh nhân ung thư vú trong suốt quá trình hóa trị và trong vòng 12 tháng sau khi kết thúc hóa trị. Việc theo dõi động học của các chỉ số này giúp xác định thời điểm xuất hiện các dấu hiệu sớm của tổn thương cơ tim và đánh giá mức độ ảnh hưởng của hóa trị lên chức năng tim.

3.2. Xác định tần suất và mức độ nặng của bệnh cơ tim do hóa trị

Nghiên cứu thu thập số liệu về tần suất mắc bệnh cơ tim do hóa trị ở bệnh nhân ung thư vú được điều trị bằng anthracycline hoặc trastuzumab. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá mức độ nặng của bệnh cơ tim, từ đó có thể đưa ra các chiến lược can thiệp và điều trị phù hợp.

IV. Phương Pháp Đánh Giá LV GLS Tiên Lượng Bệnh Cơ Tim 55 ký tự

Giá trị dự báo của LV-GLS trong việc phát hiện bệnh cơ tim mức độ trung bình không triệu chứng được xác định. LV-GLS có thể là một công cụ hữu ích để phát hiện sớm bệnh cơ tim và giúp bác sĩ đưa ra các quyết định điều trị kịp thời. Việc sử dụng LV-GLS có thể cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị.

4.1. Giá trị tiên lượng của LV GLS trước và trong quá trình hóa trị

Nghiên cứu so sánh giá trị tiên lượng của LV-GLS đo được trước khi bắt đầu hóa trị và LV-GLS đo được trong quá trình hóa trị. Mục tiêu là xác định thời điểm đo LV-GLS nào có giá trị dự báo bệnh cơ tim tốt nhất, từ đó tối ưu hóa quy trình theo dõi chức năng tim cho bệnh nhân.

4.2. Mô hình hóa dự báo bệnh cơ tim dựa trên LV GLS và các yếu tố khác

Nghiên cứu xây dựng các mô hình dự báo bệnh cơ tim kết hợp LV-GLS với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Các mô hình này có thể giúp bác sĩ đánh giá nguy cơ mắc bệnh cơ tim ở từng bệnh nhân cụ thể và đưa ra các quyết định điều trị cá nhân hóa.

V. Ứng Dụng Theo Dõi Tim Mạch Bệnh Nhân Ung Thư Vú Dễ Dàng 58 ký tự

Việc cá thể hóa tần suất theo dõi LVEF và LV-GLS trong quá trình hóa trị giúp tiết kiệm chi phí y tế và chẩn đoán sớm bệnh cơ tim. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng để hỗ trợ việc đưa ra các khuyến cáo cụ thể về tần suất theo dõi LVEF và LV-GLS ở các phân tầng nguy cơ khác nhau.

5.1. Tối ưu hóa tần suất theo dõi LVEF và LV GLS

Nghiên cứu đề xuất các khuyến cáo về tần suất theo dõi LVEF và LV-GLS dựa trên phân tầng nguy cơ HFA-ICOS và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Việc tối ưu hóa tần suất theo dõi giúp phát hiện sớm bệnh cơ tim mà không gây lãng phí nguồn lực y tế.

5.2. Ứng dụng lâm sàng của kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để cải thiện quy trình theo dõi chức năng tim cho bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị. Bác sĩ có thể sử dụng LV-GLS và các mô hình dự báo bệnh cơ tim để đánh giá nguy cơ và đưa ra các quyết định điều trị cá nhân hóa.

VI. Tương Lai Siêu Âm Đánh Dấu Mô Cơ Tim Cardio Oncology 54 ký tự

Nghiên cứu này góp phần vào sự phát triển của lĩnh vực cardio-oncology, giúp cải thiện việc quản lý tim mạch cho bệnh nhân ung thư. Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cá nhân hóa tần suất theo dõi LVEF và LV-GLS, từ đó tiết kiệm chi phí y tế và chẩn đoán sớm bệnh cơ tim do hóa trị. Phát hiện sớm bệnh cơ tim sẽ giúp bảo vệ tốt hơn cho sức khỏe tim mạch của bệnh nhân ung thư vú, đặc biệt là bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch.

6.1. Vai trò của siêu âm đánh dấu mô cơ tim trong lĩnh vực Cardio Oncology

Cardio-oncology là một lĩnh vực mới nổi, tập trung vào việc quản lý và điều trị các bệnh tim mạch ở bệnh nhân ung thư. Siêu âm đánh dấu mô cơ tim đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực này, giúp phát hiện sớm và theo dõi các biến chứng tim mạch do điều trị ung thư.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và tiềm năng phát triển

Nghiên cứu mở ra nhiều hướng nghiên cứu tiềm năng trong tương lai, bao gồm việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp bảo vệ tim mạch ở bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh cơ tim do hóa trị. Ngoài ra, cần có thêm các nghiên cứu để xác định các chỉ số siêu âm đánh dấu mô cơ tim mới có thể cải thiện khả năng dự báo bệnh cơ tim.

11/05/2025
Vai trò siêu âm tim đánh dấu mô cơ tim trong chẩn đoán bệnh cơ tim do hoá trị ung thư vú ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tim mạch và ung thư là hai nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới.1 Số liệu thống kê GLOBOCAN 2020 ghi nhận 19,3 triệu trường hợp mới mắc và 10 triệu trường hợp tử vong do ung thư hàng năm. Trong đó, ung thư vú đã vượt qua ung thư phổi trở thành loại ung thư thường gặp nhất, ước tính cứ 1 trong 8 người bệnh được chẩn đoán ung thư vào năm 2020 là ung thư vú.2 Các bệnh lý tim mạch chiếm 10% nguyên nhân tử vong ở bệnh nhân ung thư.3 Tử vong do các bệnh lý tim mạch được ghi nhận còn cao hơn cả tử vong liên quan ung thư ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm, cao tuổi và có tiên lượng sống còn ung thư dài hạn.4 Trong mối quan hệ tác động tương hỗ về cơ chế bệnh sinh giữa tim mạch và ung thư, các liệu pháp điều trị ung thư cũng có thể gây ra nhiều tác động bất lợi lên hệ tim mạch, trong đó, rối loạn chức năng tim do thuốc hóa trị là biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất và ảnh hưởng nặng nề đến kết cục bệnh nhân,5 với tử vong tim mạch trong vòng 2 năm ở bệnh nhân được chẩn đoán bệnh cơ tim do hóa trị có thể lên đến 60%.6 Anthracycline và ức chế HER-2 (trastuzumab) là những thuốc hóa trị chính ở bệnh nhân ung thư vú, và cũng là hai nhóm thuốc có mối liên quan rõ ràng nhất với bệnh cơ tim do hóa trị qua các cơ chế tổn thương cơ tim khác nhau.7 Bên cạnh đặc tính của các thuốc hóa trị, nguy cơ tổn thương cơ tim do anthracycline hoặc trastuzumab còn được quyết định bởi các yếu tố nguy cơ tim mạch nền tảng của người bệnh.7 Các yếu tố nguy cơ tim mạch (cao tuổi, tăng huyết áp, rung nhĩ, bệnh mạch vành mạn, đái tháo đường, bệnh thận mạn, béo phì…) có tác động cộng hợp, làm tăng tần suất bệnh cơ tim do hóa trị gấp 1,5 – 2 lần, độc lập với cơ chế tổn thương cơ tim do anthracycline hoặc trastuzumab.8,9 Phân tầng khả năng rối loạn chức năng tim trước hóa trị dựa trên các yếu tố nguy cơ tim mạch nền tảng (thang điểm HFA-ICOS) được khuyến cáo thực hiện cho tất cả bệnh nhân theo Hướng dẫn điều trị Hội Tim Châu Âu (ESC) 2022, nhằm đưa ra chiến lược can thiệp cá thể hóa, phòng ngừa tiên phát tổn thương cơ tim trước, trong và dài hạn sau hóa trị.7 2 Hình ảnh học tim mạch đóng vai trò trung tâm trong phân tầng nguy cơ ban đầu và phát hiện kịp thời bệnh cơ tim do hóa trị, bởi tổn thương cơ tim được chẩn đoán càng sớm trong quá trình theo dõi, khả năng hồi phục càng cao.7,10 Chẩn đoán tổn thương cơ tim dựa trên giảm phân suất tống máu thất trái (LVEF) thường ở giai đoạn trễ và khả năng cơ tim hồi phục kém khi khởi động điều trị nội khoa bảo vệ tim.7 Sức căng theo chiều dọc thất trái (LV-GLS) qua siêu âm đánh dấu mô cơ tim, được chứng minh hằng định qua các nghiên cứu có độ chính xác khi lặp lại tốt hơn, phát hiện sớm hơn tổn thương cơ tim, ổn định hơn với những thay đổi tiền tải và hậu tải do tác dụng phụ của hóa trị so với LVEF.11,12 Các hướng dẫn điều trị chuyên ngành tim mạch - ung thư hiện tại đều khuyến cáo sử dụng LV-GLS thường qui cho tất cả bệnh nhân trong quá trình hóa trị các thuốc có nguy cơ tổn thương cơ tim, nhằm dự báo sớm và đáng tin cậy bệnh cơ tim do hóa trị.7,13,14 Đến hướng dẫn điều trị ESC 2022, LV-GLS được tích hợp trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh cơ tim do hóa trị không triệu chứng khi LVEF chưa giảm dưới 40%.7 Mặc dù tần suất bệnh cơ tim do anthracycline có thể lên đến 43,8% và do trastuzumab chiếm đến 19% trong các nghiên cứu trước đây,15,16 dựa trên hiểu biết về các đặc tính tổn thương cơ tim do thuốc, tỉ lệ bệnh cơ tim được ghi nhận thấp hơn nhiều ở bệnh nhân ung thư vú với các phác đồ hóa trị hiện hành.17 Tại Việt Nam, tần suất bệnh cơ tim do anthracycline và trastuzumab chưa được báo cáo qua các nghiên cứu có cỡ mẫu lớn và theo dõi dài hạn.18,19 Đồng thời, thời điểm xuất hiện và mức độ nặng bệnh cơ tim dựa trên thay đổi LV-GLS cũng chưa được kiểm định tiến cứu ở các phân tầng nguy cơ HFA-ICOS khác nhau trong các nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân tích lũy nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch. Thiếu hụt dữ liệu trên dẫn đến khuyến cáo tần suất theo dõi lặp lại LV-GLS và LVEF ở các phân tầng nguy cơ khác nhau chủ yếu dựa trên ý kiến chuyên gia.7 Cá thể hóa tần suất theo dõi LVEF và LV-GLS trong quá trình hóa trị anthracycline hoặc trastuzumab vừa giúp tiết kiệm chi phí y tế, vừa giúp chẩn đoán sớm bệnh cơ tim do hóa trị. Chính vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “vai trò siêu âm đánh dấu mô cơ tim trong chẩn đoán bệnh cơ tim do hóa trị ung thư vú ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch”.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả động học giá trị phân suất tống máu thất trái (LVEF) và sức căng theo chiều dọc toàn bộ thất trái (LV-GLS) trong quá trình hóa trị và 12 tháng sau hóa trị ở bệnh nhân ung thư vú có yếu tố nguy cơ tim mạch được hóa trị anthracycline hoặc trastuzumab. Xác định tần suất, mức độ nặng và thời điểm xuất hiện bệnh cơ tim do hóa trị anthracycline hoặc trastuzumab trong quá trình hóa trị và 12 tháng sau hóa trị ở bệnh nhân ung thư vú có yếu tố nguy cơ tim mạch. Xác định giá trị dự báo bệnh cơ tim do anthracycline hoặc trastuzumab mức độ trung bình không triệu chứng của sức căng theo chiều dọc toàn bộ thất trái (LV-GLS) ở bệnh nhân ung thư vú có yếu tố nguy cơ tim mạch.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh cơ tim do hóa trị 1. Tổng quan bệnh cơ tim do hóa trị Tăng huyết áp • Bevacizumab Tăng áp phổi • Cisplatin • Cyclophosphamide • Ức chế tyrosine • Dasatinib kinase • Interferon-alpha • Alemtuzumab • Interleukin-2 • Interferon-alpha Bệnh cơ tim Rối loạn nhịp • Anthracyclines • Thalidomide • Trastuzumab • Methotrexate • Cyclophosphamide • Paclitaxel • Ifosfamide • Crizotinib • Clofarabine • Gemcitabine • Docetaxel • Bortezomib • Tamoxifen • Dasatinib Huyết khối • Sunitinib • Thalidomide • Sorafenib • Cisplatin • Mitomycin C • Ponatinib • Busulphan • 5-Fluorouracil • Bleomycin Nhồi máu cơ tim • Mitomycin C • 5-Fluorouracil • Vorinostat • Paclitaxel • Lenalidomide • Docetaxel • Erolitinib • Cisplatin • Gemcitabine • Sorafenib • Tamoxifen • Interferon-alpha • Bevacizumab • Interleukin-2 • Cetuximab Hình 1.1 Tác động bất lợi các thuốc hóa trị ung thư lên hệ tim mạch 20 Nguồn: Moudgil T et al, 2017 Kể từ những năm 1990, sự ra đời của đa mô thức điều trị ung thư đã cải thiện đáng kể tử vong do ung thư trên toàn thế giới. Khi tỉ lệ bệnh nhân ung thư có thời gian sống còn ≥5 năm ngày càng tăng, tác dụng phụ lâu dài của các liệu pháp điều trị ung thư lên hệ thống tim mạch được nhận diện và quan tâm nhiều hơn (Hình 1.20 Đặc biệt, ở bệnh nhân tích lũy càng nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, tần suất các biến cố tim và mạch máu liên quan điều trị ung thư càng cao.21 5 Suy tim do hóa trị được mô tả đầu tiên do tác dụng phụ của daunorubicin, thế hệ đầu của nhóm anthracycline được sử dụng trên lâm sàng.

Đến thời điểm hiện tại, mặc dù anthracycline và trastuzumab (ức chế HER-2 – Human epidermal growth factor receptor-2) vẫn là nguyên nhân chính gây ra bệnh cơ tim do hóa trị, các thuốc điều trị ung thư mới như cyclophosphamide liều cao, ức chế con đường tín hiệu VEGF (Vascular Endothelial Growth Factor), paclitaxel, ức chế Bcr-Abl, ức chế proteasome cũng có thể gây tổn thương trực tiếp lên cơ tim với tần suất hiếm hơn. Đặc điểm chung tổn thương cơ tim do anthracycline và trastuzumab là diễn tiến bán cấp hay mạn tính.22 Ngược lại, viêm cơ tim do các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (immune checkpoint inhibitor – ICI) cũng được mô tả gần đây với tần suất không cao như bệnh cơ tim do anthracycline (0,3-0,5%), nhưng diễn tiến cấp tính, trung bình 34 ngày sau khởi đầu hóa trị, và tử vong do viêm cơ tim cấp có thể lên đến 50%.2 Tần suất và đặc điểm bệnh cơ tim do hóa trị anthracycline và trastuzumab Các thuốc hóa trị ung thư tác động lên cơ tim qua nhiều cơ chế khác nhau. Trong hóa trị ung thư, hai nhóm thuốc có cơ chế tác động rõ ràng và có nhiều bằng chứng trực tiếp tổn thương cơ tim là anthracycline và ức chế HER-2 (trastuzumab).22 Anthracycline Anthracycline (doxorubicin, daunorubicin, epirubicin, idarubicin) là nhóm thuốc hóa trị nền tảng cho bạch cầu cấp nguyên bào lympho, bạch cầu cấp dòng tủy, Hodgkin lymphoma, sarcoma Ewing, sarcoma xương, u nguyên bào thần kinh và ung thư vú.24 Tác động bất lợi được quan tâm nhiều nhất khi sử dụng anthracycline trong điều trị ung thư là rối loạn chức năng tim, và nguy cơ diễn tiến suy tim.25 So với dân số chung, trẻ em sống còn sau hóa trị anthracycline có nguy cơ rối loạn chức năng tim cao gấp 5-15 lần,26,27 và tiên lượng sống còn 5 năm ở bệnh nhân được chẩn đoán suy tim do anthracycline dưới 50%.6 Tần suất bệnh cơ tim do anthracycline dao động từ 9,3% đến 43,8% trong các nghiên cứu, tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán, thời gian theo dõi, yếu tố nguy cơ tim mạch và liều tích lũy anthracycline.16 Liều tích lũy được xem là yếu tố nguy cơ mạnh nhất của tổn thương cơ tim do hóa trị anthracycline.7 Trong một phân tích gộp từ 3 nghiên cứu hồi cứu, tần suất bệnh cơ tim do doxorubicin 6 dao động từ 5% ở liều tích lũy 400 mg/m2, 16% với liều tích lũy 500 mg/m2, cho đến 26% ở liều 550 mg/m2.28 Tuy nhiên, ngay khi ở liều tích lũy 180 – 240 mg/m2, 30% bệnh nhân đã có tổn thương cơ tim dưới lâm sàng.29 Những tổn thương bệnh học cơ tim đặc trưng do hóa trị như mất sợi cơ tim và không bào hóa có thể hiện diện ngay cả khi liều tích lũy doxorubicin chỉ đạt 240 mg/m2.30 Ở mức liều anthracycline 100 mg/m2, một vài bệnh nhân vẫn được ghi nhận có giảm LVEF đáng kể.31 Ngược lại, một số bệnh nhân hoàn toàn không có bất kỳ biến cố tim mạch nào mặc dù doxorubicin được dùng liều cao đến 1.32 Những bằng chứng trên cho thấy mặc dù tổn thương cơ tim do doxorubicin phụ thuộc liều, nhưng khó có thể đưa ra ngưỡng liều an toàn tuyệt đối cho anthracycline.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ