Đặt vấn đề Dưa leo còn được gọi là dưa chuột (Cucumis sativus L.) là một loại rau ăn quả quan trọng, giàu chất dinh dưỡng được trồng phổ biến ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Dưa leo được sử dụng không chỉ làm thực phẩm mà còn trong y học trị liệu và thẩm mỹ (Samba et al. Trong quá trình canh tác, cây dưa leo có thể bị tấn công bởi nhiều tác nhân như vi khuẩn, nấm bệnh, côn trùng gây hại. Trong đó, bệnh thán thư trên dưa leo do Colletotrichum lagenarium (C.
lagenarium) (còn được gọi là Colletotrichum orbiculare) gây ra nhiều thiệt hại cho quá trình canh tác dưa leo (Damm et al. lagenarium có thể phát sinh nhiều nòi (race) khác nhau và gây ra thiệt hại khác nhau trên các giống dưa leo, cũng như nhiều loại cây trồng thuộc vào họ Cucurbitaceae (Wasilwa et al., 1993; Matsuo et al. Trong phòng trị bệnh thán thư trên dưa leo, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học thường được nông dân sử dụng để phòng trị bệnh vì mang lại hiệu quả nhanh, tuy nhiên, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không tuân theo khuyến cáo sẽ gây ra hậu quả bị ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và những sinh vật xung quanh do dư lượng thuốc tồn trữ trong đất, nước và không khí. Bên cạnh đó, Colletotrichum spp.
được ghi nhận đã có thể phát triển khả năng kháng lại các loại thuốc diệt nấm methyl benzimidazole carbamate, nhóm chất ức chế bề mặt quinone và các nhóm thuốc diệt nấm ức chế demethylation thông qua các đột biến trong trình tự nucleotide/codon của gen mã hoá protein mục tiêu của thuốc (Cortaga et al. Ngày nay, nhiều tác nhân kiểm soát sinh học (biological control agent – BCA) có thể được sử dụng làm thuốc trừ sâu sinh học, phân bón sinh học và tác nhân kích thích phát triển thực vật (Vanshree et al. BCA sử dụng nhiều cơ chế hoạt động khác nhau để kiểm soát mầm bệnh của cây trồng liên quan đến sự tương tác trực tiếp của BCA với mầm bệnh, chẳng hạn như siêu ký sinh, sản sinh enzyme phân giải hoặc kháng sinh, hoặc tương tác gián tiếp giữa BCA và mầm bệnh, ví dụ như cạnh tranh dinh dưỡng, cảm ứng không gian và kích thích tính kháng của thực vật (Vanshree et al. Trong số đó, vi khuẩn vùng rễ kích thích sinh trưởng cây trồng (PGPR) có nguồn gốc từ đất và vùng rễ thực vật và đóng vai trò chính trong việc kiểm soát sinh học các mầm bệnh thực vật (Antoun & Prévost, 2005).
Tại Việt Nam, tính đa dạng về mặt di truyền của nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư và tiềm năng của vi khuẩn vùng rễ trong kiểm soát bệnh thán thư dưa leo cần được chú trọng nghiên cứu. Xuất phát từ những vấn đề trên, luận án “Nghiên cứu đa dạng di truyền của nấm Colletotrichum spp. và biện pháp phòng trị bằng vi khuẩn đối kháng” được thực hiện. Với mục đích đánh giá được mức độ đa dạng di truyền của các chủng nấm gây bệnh thán thư trên dưa leo và tuyển chọn được chủng vi khuẩn đối kháng có tiềm năng để ứng dụng trong việc phòng trừ bệnh thán thư trên dưa leo.2 Mục tiêu đề tài Phân lập được các chủng nấm gây bệnh thán thư trên dưa leo và đánh giá được mức độ đa dạng di truyền của các chủng nấm được phân lập từ một số địa phương thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Phân lập và tuyển chọn được các chủng vi khuẩn từ đất vùng rễ dưa leo có khả năng đối kháng với nấm gây bệnh thán thư trên dưa leo trong điều kiện phòng thí nghiệm. Tuyển chọn được chủng vi khuẩn có hiệu quả làm giảm bệnh thán thư ở điều kiện nhà lưới và ngoài đồng.3 Đối tượng nghiên cứu Nấm Colletotrichum lagenarium gây bệnh thán thư trên dưa leo. Vi khuẩn từ đất vùng rễ dưa leo.4 Phạm vi nghiên cứu Các nội dung phân lập mầm bệnh, phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn từ đất vùng rễ dưa leo, khảo sát đa dạng di truyền của mầm bệnh, khảo sát các cơ chế đối kháng của vi khuẩn, khảo sát ảnh hưởng của vi khuẩn đối kháng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của dưa leo, định danh chủng vi khuẩn đối kháng được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm. Nội dung khảo sát khả năng làm giảm bệnh thán thư của vi khuẩn đối kháng trên dưa leo được thực hiện ở điều kiện nhà lưới và ngoài đồng.5 Nội dung nghiên cứu 1.
Đa dạng di truyền của nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên cây dưa leo tại đồng bằng sông Cửu Long Nội dung nghiên cứu 1: Phân lập và nhận diện mầm bệnh. Nội dung nghiên cứu 2: Đánh giá khả năng gây bệnh của các chủng nấm C. lagenarium Nội dung nghiên cứu 3: Đánh giá tính đa dạng di truyền của nấm C. Phân lập, tuyển chọn các chủng vi khuẩn vùng rễ cây dưa leo kháng nấm Colletotrichum spp.
gây bệnh thán thư ở đồng bằng sông Cửu Long Nội dung nghiên cứu 4: Phân lập và khảo sát khả năng đối kháng nấm của vi khuẩn trong điều kiện phòng thí nghiệm. Nội dung nghiên cứu 5: Đánh giá ảnh hưởng của vi khuẩn đối kháng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của dưa leo. Nội dung nghiên cứu 6: Xác định hiệu quả giảm bệnh thán thư của vi khuẩn đối kháng trên dưa leo ở điều kiện nhà lưới. 2 Nội dung nghiên cứu 7: Khảo sát các cơ chế đối kháng của vi khuẩn.
Nội dung nghiên cứu 8: Định danh vi khuẩn đối kháng tiềm năng. Nội dung nghiên cứu 9: Đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh thán thư của vi khuẩn đối kháng trên dưa leo ở điều kiện ngoài đồng.6 Đóng góp mới của luận án Xác định được nấm Colletotrichum spp. gây bện thán thư trên dưa leo tại vùng ĐBSCL là loài Colletotrichum lagenarium; Thiết kế được cặp mồi chuyên biệt TUB-COF (5’- CTTCTGGTGCGTAGATAGAC-3’) và TUB-COR (5’- GGGCTATAGGATAACAAACC-3’) dựa vào trình tự vùng gen β-tubulin để nhận diện nấm C. lagenarium; Xác định được sự tương quan giữa độc tính của nấm C.
lagenarium và kết quả phân tích đa hình về di truyền từ hai kỹ thuật RAPD và ISSR; Tuyển chọn được 12 chủng vi khuẩn vùng rễ cây dưa leo có khả năng đối kháng mạnh với mầm bệnh C. lagenarium do sinh ra các enzyme β-1,3-glucanase, cellulase, chitinase và protease để phân hủy vách tế bào mầm bệnh, sinh ra hợp chất siderophore để cạnh tranh sắt và có mang các gen tham gia vào quá trình sinh tổng hợp các lipopeptide kháng nấm. Các chủng vi khuẩn đối kháng này còn kích thích sinh trưởng cây dưa leo do có khả năng cố định đạm, hòa tan lân và tổng hợp chất kích thích sinh trưởng IAA; Tuyển chọn và định danh được vi khuẩn B.6 (bằng kỹ thuật giải trình tự vùng gen 16S rRNA kết hợp với các kỹ thuật vi sinh và sinh hóa) có khả năng giúp giảm bệnh thán thư trên dưa leo ở điều kiện nhà lưới và ngoài đồng.7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả trong luận án cung cấp thông tin khoa học về sự đa dạng về mặt di truyền và độc tính của các chủng nấm C. lagenarium gây bệnh thán thư trên dưa leo.
Bên cạnh đó, kết quả của luận án cũng cung cấp thông tin về hệ vi sinh vật vùng rễ, đặc biệt là các chủng vi khuẩn được phân lập từ đất vùng rễ dưa leo có khả năng đối kháng với nấm C. lagenarium gây bệnh thán thư trên dưa leo. Đồng thời, kết quả của luận án cũng chứng minh được cơ chế đối kháng của các chủng vi khuẩn.2 Ý nghĩa thực tế Thông tin về mức độ đa dạng di truyền và độc tính của các chủng nấm C. lagenarium giúp các nhà khoa học có thêm cơ sở trong việc phòng trị bệnh thán thư trên dưa leo.
Mặt khác, các dấu phân tử tương quan trong nghiên cứu đa dạng góp phần quan trọng trong việc xác định các gen liên quan đến độc tính của các chủng nấm C. 3 lagenarium trên cây dưa leo nhằm xây dựng các chiến lược lai tạo giống dưa leo kháng nấm hiệu quả. Ngoài ra, các chủng vi khuẩn vùng rễ được tuyển chọn rất có tiềm năng trong ứng dụng trong phòng trừ bệnh thán thư trên dưa leo. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Dưa leo Dưa leo (Cucumis sativus L.) thuộc họ Cucurbitaceae, bộ Cucurbitales.
Dưa leo được trồng cách đây khoảng 3.000 năm, có nguồn gốc ở Ấn Độ giữa vịnh Bengal và dãy Hymalayas. Theo Tạ Thu Cúc (2005), dưa leo được trồng ở Trung Quốc rất sớm, ngoài ra dưa leo cũng được trồng ở Pháp vào thế kỷ IX, ở Anh thế kỷ XIII và Tây Ban Nha vào thế kỷ XVI. Theo Mai Thị Phương Anh và ctv. (1996), cây dưa leo được xác nhận có nguồn gốc ở Việt Nam, tồn tại hàng nghìn năm nay.
Dưa leo có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới ẩm nên rễ dưa leo nhìn chung yếu hơn rễ của các cây bí ngô, dưa hấu và dưa thơm. Hệ rễ ưa ẩm, không chịu khô hạn, cũng không chịu ngập úng. Hệ rễ của dưa leo có thể ăn sâu dưới tầng đất 1 m, rễ nhánh và rễ phụ phát triển theo điều kiện đất đai. Hệ rễ phân bố ở tầng đất từ 0 – 30 cm, nhưng hầu hết rễ tập trung ở tầng đất 15 – 20 cm.
Sau 5 – 6 ngày rễ phụ phát triển. Thời kỳ cây con khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi kém, nếu cây bị hạn hoặc bị úng, một số chất dinh dưỡng cao, hệ rễ sẽ bị khô đen và bị thối (Tạ Thu Cúc, 2005). Khả năng sinh trưởng và phát triển của bộ rễ dưa leo phụ thuộc vào giống, điều kiện đất đai, giai đoạn sinh trưởng và điều kiện bảo quản (Trần Khắc Thi & Nguyễn Công Hoan, 2007). Dưa leo là cây thân thảo hằng niên, thân dài trung bình 1,5 – 2 m, có nhiều tua cuốn để leo bám.
Trên thân cây có lông ở các đốt có thể sinh rễ phụ, thân chính phân thành nhiều nhánh (Tạ Thu Cúc, 2005). Chiều cao thân phụ thuộc chủ yếu vào giống, điều kiện ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc (Tạ Thu Cúc, 2005). Lá dưa leo gồm có lá mầm và lá thật, 2 lá mầm mọc đối xứng qua trục thân. Lá mầm có hình trứng và là chỉ tiêu chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và dự đoán tình hình sinh trưởng của cây.
Người trồng dưa thường quan tâm đến độ lớn, sự cân đối và thời gian duy trì lá mầm trên cây dài hay ngắn. Lá thật có 5 cánh, chia thùy nhọn hoặc có dạng chân vịt, có dạng lá tròn, trên lá có lông cứng, ngắn, màu sắc lá thay đổi (Tạ Thu Cúc, 2005).