Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Quế là một loại cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) cho hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu Quế hiện đã không còn dồi dào. Nhất là hiện nay, người dân chuyển sang trồng cây keo nhiều hơn cây Quế, do cây keo sớm thu lợi nhuận hơn (chỉ khoảng 4-5 năm là thu hoạch). Vì lợi ích trước mắt, người trồng Quế đã tự thu hẹp diện tích trồng, làm giảm sản lượng sản phẩm.
Sự suy giảm năng suất, phẩm chất Quế tại địa phương do những nguyên nhân như sau: Việc trồng, chăm sóc, khai thác Quế tại huyện Bảo Thắng vẫn còn theo kinh nghiệm truyền thống, có đất là trồng, trồng tùy tiện, không đúng kỹ thuật, chỗ trồng quá dày, không đủ điều kiện ánh sáng cho cây, tạo điều kiện để sâu bệnh hại phát triển; bảo quản Quế sau thu hoạch chưa đúng cách, chủ yếu sấy khô theo phương pháp thủ công; đất trồng manh mún, mang nặng tính tự phát. Ngoài ra, giá cả thị trường trong thời gian gần đây luôn biến đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau và có chiều hướng giảm dần. Ngoài ra, cây Quế trên địa bàn huyện Bảo Thắng bị bệnh tua mực và các loại bệnh khác như: Bệnh đốm lá, khô đọt, thán thư, sâu khô đọt. gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng và năng suất cây Quế.
Cây Quế chủ yếu nhiễm bệnh từ 3 năm tuổi trở lên. Giống Quế bản địa là một loại Quế có chất lượng tốt, hàm lượng tinh dầu cao đang bị thoái hoá, nên nếu không có chủ chương, chính sách bảo tồn, cải tạo rừng Quế bản địa thì sản lượng, đặc biệt là chất lượng sẽ giảm trong những năm sắp tới. Vì vậy cần phải có biện pháp hỗ trợ và phát triển toàn diện để đem lại năng suất và hiệu quả cho cây Quế trên địa bàn huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.Đây cũng là định hướng phát triển kinh tế bằng cây lâm nghiệp, giúp xóa đói và vươn lên làm giàu. 5 Giá quế trên thị trưởng hiện nay tại Huyện Bảo Thắng giá bán tinh dầu Quế trung bình 550.
Giá Quế vỏ qua sơ chế theo đơn đặt của khách hàng bán với giá 40. Cành, lá Quế khô được thu mua bán cho các cơ sở trưng cất tinh dầu Quế với giá từ 1. Gỗ Quế được bán với giá từ 1.000 đồng/m3tuỳ theo gỗ to hay nhỏ. Thân Quế sau khi bóc vỏ có đường kính từ 15 cm trở lên bán cho các cơ sở chế biến gỗ làm ván bóc với giá từ 1,5 - 1,8 triệu/m3.
Với tiềm năng thị trường thì hiện nay nhu cầu sử dụng tinh dầu Quế trên thế giới là rất lớn và luôn ở mức cung không đủ cầu. Như vậy, lợi nhuận thu được từ chưng cất tinh dầu Quế là rất cao. Theo tính toán, cứ 120-150 kg lá Quế thì trưng cất được 1 kg tinh dầu với giá hiện nay từ 550. Do bán được giá và thị trường tiêu thụ ổn định nên các cơ sở chế biến tinh dầu Quế ở Lào Cai đang tận thu lá Quế và đua nhau nâng giá thu mua.
Nếu trước đây các hộ chỉ bán lá Quế ở những cây khai thác với giá 500-800 đ/kg, đến nay do giá thu mua khá hấp dẫn 2.100 đ/kg nên các hộ khai thác lá Quế cả ở những cây đang phát triển. Người thu mua đến tận đồi thuê người khai thác. việc khai thác lá Quế quá mức, giống như việc gặt lúa non đang tiềm ẩn những nguy cơ làm tàn kiệt, suy thoái rừng Quế, khiến cho chất lượng chính của cây Quế là vỏ không có tinh dầu, đồng nghĩa chất lượng Quế Lào Cai xuống cấp. Điều này đang báo hiệu sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp nguyên liệu và nhà máy chế biến.
Việc đẩy giá thu mua lá Quế của các cơ sở chế biến đang dẫn dụ người dân khai thác kiệt quệ, tự phá rừng Quế của mình. Sản lượng Quế tiềm năng của huyện Bảo Thắng: Số lượng lá Quế trên mỗi cây: 30 kg/cây Khối lượng gỗ Quế trên mỗi cây: 0,1m3 Số lượng lá Quế sản xuất dầu: 143 kg/1 kg dầu Số lượng cây trên/ha: 3000 Năng suất: 370 kg Tỷ lệ hấp thụ: 10% 6 1. Những kết quả nghiên cứu về cây Quế trên thế giới 1.1 Xuất xứ Chi Quế (tên khoa học: Cinnamomum) là một chi các loài thực vật thường xanh thuộc họ Nguyệt quế (Lauraceae). - Quế - Cinnamomum zeylanicum, là vỏ của một loại cây xanh nhỏ thuộc gia đình Lauracées (giống như nguyệt quế/laurier), có nguồn gốc từ Tích Lan (Ceylan)- Sri Lanka hiện nay.
- Được biết đến từ thời cố đại, có nghĩa là đã vào từ những ngày xưa xưa lắm… Quế được trồng đầu tiên ở Trung Quốc, và sau đó Quế được “xâm nhập” vào Châu Âu theo “con đường tơ lụa”, và thời gian đó Quế được xem là một dược liệu hữu ích và được sử dụng chủ yếu để trong việc chế biến thuốc thang cũng như được dùng trong một số nghi thức tôn giáo. - Quế vào thời gian đó có thể nói chỉ dành riêng cho những người giàu, rất giàu, vì giá thành quá mắc và kéo dài cho đến thời Phục hưng mới được dân chủ hóa … sau đó chính thức có mặt trong các món ăn Pháp ở thế kỷ XVI. Lá và vỏ cây các loài thuộc chi này có tinh dầu thơm. Chi này có khoảng hơn 300 loài, phân bố chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Đại Dương và Australasia.
Tình hình sản xuất Quế trên thế giới Các số liệu thống kê của FAO được cung cấp dưới đây cho thấy một bức tranh toàn cầu về Quế trên toàn cầu trong 10 năm qua. Trong những năm gần đây nghiên cứu tài liệu thị trường cho thấy thị trường Quế không có những thay đổi đáng kể trong việc cung cấp Quế. Như vậy dữ liệu của FAO về sản xuất Quế được coi là có giá trị và hữu ích cho việc phân tích Quế ở các nước trên thế giới.1: Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2003-2011 Quốc gia Yếu tố 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Thế giới 151,297 157.079 Trung Quốc Diện 31.789 Sri Lanka tích thu 26.300 Các tiểu quốc đảo đang phát triển (ha) 2.000 700 800 Trung phi 153 156 194 201 220 220 224 228 210 Sao Tome and Princip 153 156 194 201 220 220 224 228 210 Thế giới 132.123 Sản Việt Nam 6.258 lượng Sri Lanka 13.300 Các tiểu quốc đảo đang phát triển 459 396 400 400 370 387 375 329 353 Timor-Leste 105 100 109 114 119 126 121 100 105 Grenada 100 Seychelles 200 150 120 100 Số liệu thống kê của FAO Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2003-2011[3] 8 Hơn 10 năm qua diện tích trồng Quế trên toàn thế giới đã tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 5,2% từ 151.297ha năm 2003 lên đến 227.529ha vào năm 2011 và đặc biệt đáng chú ý đó là Vệt Nam đạt mức tăng trưởng hai chữ số với tỷ lệ 15,6%. Diện tích Quế trên toàn quốc tăng gấp 3 lần từ 17.000ha trong năm 2003 lên 54.
In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka hiển nhiên là cường quốc sản xuất Quế chính trên thế giới. In-đô-nê-xi-a chiếm 45% tổng diện tích đất trồng Quế, tiếp theo là Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka với số phần tương ứng là 24%, 17% và 13%. - Giá trị kinh tế, đặc tính sinh thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác chế biến và thị trường tiêu thụ: 1.3 Giá trị kinh tế Dầu quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cất hơi nước. Các thành phần hóa học chính của dầu quế là aldehyd cinnamic, cinnamyl acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol.
Các đặc tính chữa bệnh của dầu quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy, chống vi khuẩn và chống nôn. Dầu quế được sử dụng cho các bệnh cảm lạnh, cúm, sốt, viêm khớp và thấp khớp…( http://www.za/essential- oils/cassia.htm) Quế vỏ được dùng làm gia vị trong công nghiệp chế biến thực phẩm (ướp thịt, cá, làm bánh kẹo, sản xuất đồ hộp, nước giải khát). Tinh dầu từ vỏ và lá được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm và hoá mỹ phẩm. Tại các nước châu Âu, tinh dầu từ vỏ quế quan được dùng để uống với chè vì nó có đặc tính kích thích và diệt khuẩn.
Ngoài tinh dầu trong vỏ quế còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin), protein, pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng. Tinh dầu lá quế thành phần chính là eugenol (70-95%), ngoài ra còn khoảng 50 hợp chất khác, trong đó các hợp chất có hàm lượng đáng kể là linalool, cinnamyl acetat, β-caryophyllen, (E)- 9 cinnamic aldehyd, benzyl benzoat…. Do có hàm lượng eugenol cao, nên tinh dầu lá quế quan được dùng làm nguyên liệu để chuyển hoá thành iso-eugenol và tổng hợp vanilin. Hạt chứa dầu béo (hàm lượng khoảng 30%) nên được dùng làm dầu thực phẩm tại Ấn Độ và Sri Lanka.4 Đặc tính sinh thái Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở miền Nam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam).
Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài từ 10-15 cm. Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu. Hoa tự chùm, nhỏ màu trắng, quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 - 3000 hạt. Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc.
tamala phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ cao 2000m. tamala được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của Meghalaya và vùng đồi Cachar Bắc của Assam (Cinnamom and cassia. Quế Inđonesia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2000m. Trung tâm trồng Quế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 - 1300m.
Một biến chủng của loài này có lá non màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi là Kerinci). Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi Quế Korintji (cinnamom and cassia. Kỹ thuật gây trồng Trên thế giới có nhiều nước trồng Quế rất thành công cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m. Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 - 5 tháng tuổi.