Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, ngành chăn nuôi gia cầm giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho các hộ nông dân. Giai đoạn 2011 - 2013, tổng đàn gia cầm của toàn huyện đã có sự gia tăng từ 2,1 triệu con lên 2,5 triệu con. Tuy nhiên, sự phát triển này chủ yếu diễn ra theo phương thức chăn nuôi quy mô hộ gia đình, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và phụ phẩm trồng trọt, chuồng trại chưa đảm bảo yêu cầu an toàn sinh học. Điều này khiến cho tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, trong đó các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa, đặc biệt là bệnh giun đũa gà do Ascaridia galli gây ra, xuất hiện phổ biến và kéo dài dai dẳng.
Bệnh giun đũa gà tuy không gây chết ồ ạt như các bệnh truyền nhiễm cấp tính, nhưng làm cho gà bị còi cọc, chậm lớn, tiêu tốn thức ăn, giảm sản lượng trứng và suy giảm sức đề kháng, mở đường cho các mầm bệnh truyền nhiễm khác xâm nhập. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác kiểm soát ký sinh trùng gia cầm tại địa phương, đề tài “Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị” đã được thực hiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 5 nội dung:
- Xác định tỷ lệ và cường độ gà nhiễm giun đũa tại một số xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định ảnh hưởng của mùa vụ tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà.
- Xác định ảnh hưởng của lứa tuổi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà.
- Xác định ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà.
- Xác định hiệu quả của việc dùng thuốc trong phòng và trị bệnh giun đũa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà ở các lứa tuổi khác nhau (1 - 2 tháng tuổi, 3 - 4 tháng tuổi, 5 - 6 tháng tuổi và trên 6 tháng tuổi) được nuôi theo các phương thức khác nhau tại các hộ gia đình.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa và thu thập mẫu phân tại 3 xã đại diện của huyện Phú Lương, gồm xã Cổ Lũng, xã Phấn Mễ và xã Vô Tranh. Công tác xét nghiệm mẫu và mổ khám bệnh tích được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai trong thời gian 6 tháng, từ ngày 09 tháng 12 năm 2013 đến ngày 31 tháng 05 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên hệ thống lý luận về ký sinh trùng học thú y và dịch tễ học giun sán gia cầm:
- Vị trí phân loại học: Theo phân loại của Phan Thế Việt và cộng sự (1977), loài giun đũa gà có tên khoa học là Ascaridia galli, thuộc ngành Nemathelminthes (Schneides, 1886), lớp Nematoda (Rudalphi, 1808), bộ Ascaridata, họ Ascaridae.
- Đặc điểm sinh học và bệnh học: Giun đũa gà có màu trắng ngà hoặc vàng nhạt, quanh miệng có 3 lá môi. Giun đực có chiều dài từ 26 - 70 mm (hoặc 3 - 10 cm theo Orlov, 1975), có hai gai giao hợp nhọn dài bằng nhau (0,63 - 1,95 mm); giun cái dài từ 65 - 110 mm (hoặc 7 - 12 cm). Trứng giun hình bầu dục, vỏ dày nhẵn, kích thước khoảng 75 - 90 x 45 - 60 µm, giun cái đẻ khoảng 72.000 trứng mỗi ngày. Chu trình phát triển là trực tiếp, không qua ký chủ trung gian; sau khi vào đường tiêu hóa, ấu trùng chui vào tuyến Lieberkühn ở niêm mạc ruột non phát triển trong khoảng 19 ngày rồi trở lại xoang ruột để trưởng thành. Toàn bộ vòng đời hoàn thành trong 35 - 58 ngày và giun có thể sống trong ruột gà từ 9 - 14 tháng.
- Cơ chế tác hại: Giun gây tác động cơ giới (làm tổn thương tuyến ruột, viêm loét, xuất huyết, thậm chí gây tắc ruột và thủng ruột), chiếm đoạt chất dinh dưỡng (đặc biệt là protein và vitamin A), tiết độc tố gây rối loạn thần kinh, tuần hoàn và ức chế miễn dịch.
- Cơ sở phòng trừ: Vận dụng học thuyết dự phòng tiêu diệt giun sán chủ động của K.I. Skrjabin (1994), kết hợp can thiệp thuốc hóa dược đặc hiệu với các biện pháp vệ sinh môi trường, ủ phân sinh học diệt trứng giun bằng nhiệt.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp lấy mẫu: Thu thập mẫu phân tươi vào sáng sớm tại các chuồng nuôi, chứa trong túi nilon kín và ghi chép thông tin dịch tễ kèm triệu chứng lâm sàng.
- Phương pháp xét nghiệm phân: Sử dụng phương pháp phù nổi Fülleborn dùng dung dịch nước muối bão hòa (tỷ lệ hòa tan khoảng 380g NaCl/1 lít nước sôi) để tách và làm nổi trứng giun lên bề mặt phiến kính trước khi soi kính hiển vi quang học.
- Tiêu chí đánh giá cường độ nhiễm dựa trên số lượng trứng quan sát được trên một vi trường:
- Âm tính (-): Không có trứng giun.
- Cường độ nhẹ (+): 1 - 3 trứng/vi trường.
- Cường độ trung bình (++): 4 - 6 trứng/vi trường.
- Cường độ nặng (+++): 7 - 8 trứng/vi trường.
- Cường độ rất nặng (++++): Trên 9 trứng/vi trường.
- Phương pháp mổ khám: Tiến hành mổ khám 13 cá thể gà theo phương pháp mổ khám toàn diện đường tiêu hóa để quan sát biến đổi bệnh tích đại thể ở ruột non, ruột già, manh tràng, gan và túi mật.
- Phương pháp thử nghiệm điều trị: Đánh giá hiệu lực sạch trứng giun của 2 loại thuốc thú y: Tayzu (Hanvet, liều 500 mg/kg thể trọng, trộn thức ăn) và Mebendazol (liều 400 mg/kg thể trọng, cho uống), kiểm tra lại phân sau 15 ngày dùng thuốc.
- Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng phương pháp thống kê sinh vật học trong nông nghiệp của Nguyễn Văn Thiện (2000), xác định các chỉ tiêu tỷ lệ (%), cường độ (%), giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số trung bình ($m_{\bar{x}}$) và hệ số biến dị ($C_v%$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất
Nội dung phần này phản ánh kết quả điều tra thực địa về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại huyện Phú Lương cùng các hoạt động thực hành chuyên môn thú y của tác giả:
- Về tự nhiên và kinh tế - xã hội: Huyện Phú Lương có diện tích tự nhiên 368,82 km², nằm trên trục Quốc lộ 3; dân số năm 2013 đạt 108.187 người, lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 45,8%. Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản bình quân giai đoạn 2009 - 2013 đạt 6,96%/năm. Diện tích gieo trồng lúa năm 2013 là 17.108 ha, sản lượng đạt 98.391 tấn; diện tích chè đạt 4.100 ha, sản lượng 35.000 tấn. Đàn trâu bò đạt 38.000 con, đàn lợn đạt 171.000 con và đàn gia cầm đạt 2,5 triệu con.
- Hoạt động ứng dụng kỹ thuật và dịch vụ thú y: Tác giả trực tiếp tham gia hỗ trợ kỹ thuật chọn giống nái hướng nạc, phương pháp thụ tinh nhân tạo cho lợn, phối hợp khẩu phần bổ sung premix khoáng - vitamin cho gia súc, gia cầm.
- Kết quả thực hành tiêm phòng và điều trị bệnh tại cơ sở:
- Tiêm vaccine phòng bệnh: Đạt tỷ lệ bảo hộ an toàn 100% trên 243 lợn tiêm Dịch tả, 253 lợn tiêm Tụ huyết trùng, 40 lợn tiêm Leptospirosis và 78 chó tiêm phòng bệnh Dại.
- Điều trị bệnh lâm sàng: Điều trị 45 lợn con mắc bệnh phân trắng (Colibacillosis) bằng Phardiasol khỏi 42 con (đạt 93,33%); điều trị 2 lợn nái bại liệt sau đẻ bằng Calci - Magie Glutamat khỏi 100%; điều trị 8 lợn mắc bệnh ghẻ (Sarcoptes suis) bằng Ivermectin kết hợp tắm ghẻ khỏi 100%.
- Các thủ thuật khác: Thực hiện an toàn 100% việc thiến 55 lợn đực, tiêm sắt Dextran-Fe cho 51 lợn con, trực đỡ đẻ 2 ca lợn nái và phun 21 lít hóa chất sát trùng chuồng trại.
Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học
Chuyên đề đi sâu vào khảo sát dịch tễ học bệnh giun đũa gà (Ascaridia galli) trên địa bàn 3 xã thuộc huyện Phú Lương:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước (Trịnh Văn Thịnh, Phan Thế Việt, Lương Văn Huấn, Nguyễn Thị Kim Lan...) và quốc tế (Permin, Poulsen, Magwisha, Mungube, Kurt...) về thành phần loài giun sán gia cầm và tỷ lệ nhiễm Ascaridia galli.
- Khảo sát dịch tễ học trên tổng số 611 mẫu phân gà:
- Phân tích tỷ lệ và cường độ nhiễm phân bổ theo 3 địa bàn xã (Cổ Lũng, Phấn Mễ, Vô Tranh).
- Phân tích tương quan giữa lứa tuổi gà (1 - 2 tháng, 3 - 4 tháng, 5 - 6 tháng, trên 6 tháng) với mức độ cảm nhiễm giun đũa.
- Phân tích biến động tỷ lệ nhiễm theo điều kiện khí hậu mùa vụ (mùa đông và mùa xuân).
- Phân tích ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi (nuôi nhốt, bán chăn thả, chăn thả tự do) đến sự phát tán mầm bệnh.
- Khảo sát triệu chứng lâm sàng trên 95 gà nhiễm bệnh và mổ khám bệnh tích đại thể trên 13 cá thể gà.
- Thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu lực của 2 phác đồ điều trị bằng hóa dược Mebendazol và Tayzu.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng
Khóa luận đã thu thập và xử lý 611 mẫu phân gà tại 3 xã thuộc huyện Phú Lương, ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun đũa chung là 42,72% (261/611 mẫu dương tính).
| Địa bàn khảo sát |
Số mẫu kiểm tra |
Số mẫu nhiễm |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Cường độ nhẹ (+) (%) |
Cường độ trung bình (++) (%) |
Cường độ nặng (+++) (%) |
Cường độ rất nặng (++++) (%) |
| Xã Cổ Lũng |
222 |
88 |
39,64 |
55,68 |
37,50 |
5,68 |
1,14 |
| Xã Phấn Mễ |
225 |
96 |
42,67 |
57,29 |
34,36 |
7,29 |
1,04 |
| Xã Vô Tranh |
164 |
77 |
46,95 |
54,55 |
31,17 |
10,39 |
3,90 |
| Tính chung |
611 |
261 |
42,72 |
55,94 |
34,48 |
7,66 |
1,92 |
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa có sự khác biệt rõ rệt theo các yếu tố sinh học và môi trường:
- Theo lứa tuổi: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần khi tuổi gà tăng lên. Gà 1 - 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 51,85% (cường độ nặng và rất nặng lần lượt là 11,22% và 3,06%); gà 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 41,99%; gà 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 36,11%; gà trên 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 32,53% và không ghi nhận ca nhiễm nặng hoặc rất nặng.
- Theo mùa vụ: Mùa xuân có tỷ lệ nhiễm (46,72%) và cường độ nhiễm nặng (10,16%), rất nặng (2,34%) cao hơn đáng kể so với mùa đông (tỷ lệ nhiễm 39,47%, cường độ nặng 5,26%, rất nặng 1,50%) do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm mùa xuân thích hợp cho trứng giun phát triển thành ấu trùng gây nhiễm.
- Theo phương thức chăn nuôi: Phương thức nuôi nhốt kiểm soát dịch bệnh tốt nhất với tỷ lệ nhiễm chỉ 8,49% (chỉ xuất hiện mức độ nhẹ 88,89% và trung bình 11,11%); phương thức bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm 45,61%; phương thức chăn thả tự do có tỷ lệ nhiễm cao nhất lên tới 53,43% (cường độ nặng 8,78%, rất nặng 2,03%).
| Yếu tố khảo sát |
Phân loại |
Số mẫu kiểm tra |
Số mẫu nhiễm |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
| Lứa tuổi |
1 - 2 tháng tuổi |
189 |
98 |
51,85 |
|
3 - 4 tháng tuổi |
231 |
97 |
41,99 |
|
5 - 6 tháng tuổi |
108 |
39 |
36,11 |
|
> 6 tháng tuổi |
83 |
27 |
32,53 |
| Mùa vụ |
Mùa đông |
337 |
133 |
39,47 |
|
Mùa xuân |
274 |
128 |
46,72 |
| Phương thức nuôi |
Nuôi nhốt |
106 |
9 |
8,49 |
|
Bán chăn thả |
228 |
104 |
45,61 |
|
Chăn thả tự do |
277 |
148 |
53,43 |
Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng trên 95 cá thể gà nhiễm bệnh cho thấy:
- 74 con (77,89%) không có biểu hiện triệu chứng rõ rệt (chủ yếu ở thể nhiễm nhẹ và trung bình).
- 16 con (16,84%) có biểu hiện kém ăn, phân lỏng, lông dựng, chậm lớn.
- 5 con (5,26%) có biểu hiện bệnh nặng: gầy yếu, bỏ ăn, chậm chạp, phân lỏng, cánh rũ, mào tích nhợt nhạt và xuất hiện giun đũa trong phân bài tiết.
Kết quả mổ khám bệnh tích đại thể trên 13 gà bệnh ghi nhận:
- 11 con (84,62%) có tổn thương niêm mạc ruột non (viêm, sung huyết, tụ huyết, thành ruột dày lên và phủ dịch nhầy).
- 6 con (46,15%) có biểu hiện gan tụ huyết, màu nhợt nhạt.
- 1 con (7,69%) có bệnh tích túi mật sưng to.
Kết quả thử nghiệm hiệu lực điều trị:
| Tên thuốc |
Dạng dùng và liều lượng |
Số gà điều trị (con) |
Số gà sạch trứng giun (con) |
Tỷ lệ khỏi (%) |
| Tayzu (Hanvet) |
500 mg/kg thể trọng, trộn thức ăn |
35 |
32 |
91,43 |
| Mebendazol |
400 mg/kg thể trọng, cho uống |
30 |
28 |
93,33 |
Sau 15 ngày dùng thuốc, Mebendazol đạt hiệu lực tẩy trừ 93,33% (trong 30 gà điều trị, 28 con sạch hoàn toàn trứng giun, 2 con còn nhiễm nhẹ); Tayzu đạt hiệu lực 91,43% (32/35 con sạch trứng). Cả hai loại thuốc đều thể hiện tính an toàn cao, không gây phản ứng phụ trên đàn gà thí nghiệm.
Giải pháp và kiến nghị đề xuất
Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các khuyến nghị kỹ thuật:
- Chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ thả tự do sang bán chăn thả hoặc nuôi nhốt tập trung có kiểm soát vệ sinh chuồng trại.
- Áp dụng quy trình tẩy giun định kỳ: Thực hiện tẩy giun cho đàn gà từ 2 - 3 lần/năm, ưu tiên vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9); bắt đầu thực hiện phòng bệnh đặc hiệu khi gà đạt 1 tháng tuổi.
- Trong thời gian tẩy giun và 2 ngày tiếp theo, cần nhốt gà trong chuồng để thu gom toàn bộ chất thải, đem ủ sinh học hoặc đốt/chôn nhằm diệt triệt để trứng giun, ngăn chặn tái nhiễm môi trường.
- Sử dụng thuốc Mebendazol (400 mg/kg thể trọng) hoặc Tayzu (500 mg/kg thể trọng) theo đúng phác đồ hướng dẫn.
Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về tình hình nhiễm giun đũa gà tại huyện Phú Lương, làm rõ mối liên hệ giữa tỷ lệ nhiễm với độ tuổi, mùa vụ và tập quán chăn nuôi tại địa phương. Kết quả thử nghiệm điều trị xác nhận hiệu lực của Mebendazol và Tayzu trong điều kiện sản xuất thực tế tại Thái Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi khảo sát thực địa mới chỉ giới hạn tại 3 xã thuộc huyện Phú Lương (Cổ Lũng, Phấn Mễ, Vô Tranh), chưa bao quát toàn bộ các xã vùng sâu, vùng cao trong huyện.
- Thời gian nghiên cứu kéo dài 6 tháng nên chỉ thu thập được mẫu phân trong hai mùa (mùa đông và mùa xuân), chưa theo dõi được biến động dịch tễ liên tục qua mùa hạ và mùa thu trong trọn vẹn một năm.
- Quy mô mẫu mổ khám bệnh tích đại thể (13 con) và mẫu thử nghiệm thuốc điều trị (65 con) còn tương đối nhỏ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô điều tra trên toàn địa bàn huyện Phú Lương theo chu kỳ 4 mùa trong năm.
- Nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng đồng nhiễm giữa giun đũa (Ascaridia galli) với các loài giun tròn đường ruột khác (Heterakis gallinarum) và sán dây (Raillietina spp.).
- Thử nghiệm mở rộng thêm các hoạt chất tẩy giun thế hệ mới và đánh giá chi tiết chỉ tiêu tăng trọng của gà sau can thiệp điều trị.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y: Tham khảo quy trình kỹ thuật xét nghiệm ký sinh trùng đường tiêu hóa bằng phương pháp phù nổi Fülleborn, quy trình mổ khám chẩn đoán bệnh tích gia cầm và phương pháp phân tích thống kê sinh vật học.
- Cán bộ trạm thú y, khuyến nông địa phương: Sử dụng các số liệu dịch tễ để lập kế hoạch tiêm phòng, tẩy giun định kỳ và xây dựng tài liệu tuyên truyền cho người chăn nuôi tại các huyện miền núi.
- Người chăn nuôi gia cầm: Áp dụng phác đồ tẩy giun bằng Mebendazol hoặc Tayzu cùng các biện pháp quản lý chuồng trại, xử lý chất thải nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ nhiễm giun đũa gà chung tại huyện Phú Lương là bao nhiêu và xã nào có tỷ lệ nhiễm cao nhất?
Qua xét nghiệm 611 mẫu phân tại 3 xã, tỷ lệ nhiễm giun đũa gà trung bình là 42,72% (261 mẫu nhiễm). Trong đó, xã Vô Tranh có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 46,95% (cường độ nặng 10,39%, rất nặng 3,90%), tiếp theo là xã Phấn Mễ với 42,67%, và xã Cổ Lũng có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 39,64%.
Lứa tuổi nào của gà có tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa cao nhất?
Gà con ở giai đoạn 1 - 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất đạt 51,85% (trong đó cường độ nặng chiếm 11,22% và rất nặng chiếm 3,06%). Tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần theo độ tuổi; ở gà trên 6 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm giảm xuống còn 32,53% và không có trường hợp nào nhiễm ở mức độ nặng hay rất nặng do sức đề kháng của gà trưởng thành tốt hơn.
Phương thức chăn nuôi ảnh hưởng như thế nào đến mức độ nhiễm giun đũa ở gà?
Phương thức nuôi nhốt hoàn toàn có tỷ lệ nhiễm thấp nhất, chỉ đạt 8,49% và chỉ nhiễm ở mức độ nhẹ đến trung bình. Phương thức bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm 45,61%, trong khi phương thức chăn thả tự do có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 53,43% (nhiễm nặng 8,78%, rất nặng 2,03%) do gà dễ tiếp xúc với mầm bệnh phân tán ngoài môi trường.
Bệnh tích đại thể điển hình khi mổ khám gà bị bệnh giun đũa là gì?
Kết quả mổ khám 13 cá thể gà bệnh cho thấy bệnh tích tập trung chủ yếu ở đường tiêu hóa: 84,62% gà có niêm mạc ruột non bị tổn thương, viêm loét, sung huyết, tụ huyết, thành ruột dày lên và chứa nhiều dịch rỉ viêm; 46,15% gà bị tụ huyết ở gan, gan nhợt nhạt; và 7,69% gà có túi mật sưng to.
Thuốc Mebendazol và Tayzu đạt hiệu lực tẩy giun đũa như thế nào trong thử nghiệm?
Sau 15 ngày sử dụng, thuốc Mebendazol (liều 400 mg/kg thể trọng, cho uống) đạt hiệu lực làm sạch trứng giun 93,33% (28/30 gà sạch hoàn toàn). Thuốc Tayzu (liều 500 mg/kg thể trọng, trộn thức ăn) đạt hiệu lực 91,43% (32/35 gà sạch hoàn toàn). Cả hai loại thuốc đều an toàn và cho hiệu quả điều trị cao.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Quang Minh đã thực hiện toàn diện công tác thực hành phục vụ sản xuất thú y và hoàn thành chuyên đề nghiên cứu dịch tễ bệnh giun đũa gà (Ascaridia galli) trên 611 mẫu phân tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa chung là 42,72%, đồng thời chỉ rõ mức độ nhiễm phụ thuộc chặt chẽ vào lứa tuổi gà, mùa vụ và phương thức chăn nuôi (chăn thả tự do nhiễm cao nhất 53,43%, nuôi nhốt thấp nhất 8,49%). Thử nghiệm điều trị thực tế khẳng định hiệu lực tẩy trừ giun đũa cao của Mebendazol (93,33%) và Tayzu (91,43%), cung cấp cơ sở kỹ thuật xác thực để áp dụng vào thực tiễn phòng trừ dịch bệnh giun sán gia cầm tại địa phương.