Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vị trí phân loại, một số đặc điểm hình thái đặc trưng và tình trạng bảo tồn của VQĐT 1. Vị trí phân loại VQĐT được Wilfred H. Osgood mô tả lần đầu tiên vào năm 1932 từ mẫu vật sưu tầm được ở Hồi Xuân, Thanh Hoá bởi J.
Ban đầu loài này được Osgood (1932) đặt tên là Pithecus delacouri Osgood, 1932. Sau đó, VQĐT được Groves (1970) [72] coi là thuộc trong nhóm Trachypithecus và là phân loài của Voọc đen má trắng nên được đổi tên khoa học thành Trachypithecus francoisi delacouri (Osgood, 1932). Đây là tên hiện được công nhận và dùng rộng rãi trong tất cả các nghiên cứu trên thế giới [62, 69]. Để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu và trích dẫn tài liệu, tác giả dựa theo các tài liệu về phân loại học của Groves (2001) và Brandon-Jones et al.
(2004) [58] đã thống nhất VQĐT có tên khoa học là Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932), tên tiếng Anh là Delacour’s langur hoặc White-rumped black leaf monkey. Theo hệ thống phân loại của Grove (2001), vị trí phân loại của VQĐT như sau: Bộ Primates Linnaeus, 1758 Phân bộ Anthropoidea Mivart, 1864 Dưới phân bộ Catarrhini Geoffroy, 1812 Trên họ Cercopithecoidea Gray, 1821 Họ Cercopithecidae Gray, 1821 Phân họ Colobinae Jerdon, 1867 Giống Trachypithecus Reichenbach, 1862 Loài Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932) 1. Một số đặc điểm hình thái đặc trưng của VQĐT Nadler (1998) và Nadler et al. (2002) đã chỉ ra những đặc điểm phân biệt rõ giữa VQĐT với loài gần gũi nhất (hình 1.2): Màu lông trắng ở phần ngoài đùi và mông làm cho con Voọc như đang mặc một cái quần đùi trắng.
Lông trên đầu dựng đứng thành mào, cao nhọn và chĩa về phía trước. Ở phía sau gáy vết lông đó tạo nên 7 một cái mào thẳng đứng. Chiếc đuôi dài rậm, lông mọc khác với tất các các loài Voọc khác. Lông đuôi mọc thẳng đứng, do đó đuôi trông như một củ cà rốt với đường kính khoảng 10 cm ở gần gốc đuôi.
Phân biệt giữa cá thể đực và cái ở VQĐT là khó khăn [82,83] Nguồn ảnh: Phạm Gia Thanh, 2023 Hình 1. Voọc quần đùi trắng quan sát trực tiếp ngoài tự nhiên ở Vân Long Khác với các loài khỉ trong họ (Cercopithecinae) có cấu tạo dạ dày đơn, các loài linh trưởng thuộc họ phụ Voọc (colobinae) có cấu tạo dạ dày đặc trưng với dạ dày trước lớn, có túi chứa nhiều các loại vi sinh. Đây là nơi thức ăn được lên men. Hệ tiêu hóa của các loài voọc được đặc trưng bởi một dạ dày lớn, dạ dày có từ 3 ngăn trở lên và thường được phân ra 4 ngăn, mỗi ngăn đảm nhận các chức năng khác nhau và có cấu tạo thuận lợi cho quá trình tiêu hóa lên men, giống như ở các động vật có vú nhai lại.
Ngăn trước của dạ dày có kích thước lớn, tạo thành các túi (túi trước và túi sau) có môi trường thích hợp cho nhiều loài vi khuẩn, nấm cộng sinh lên men phân hủy cellulose và hemicellulose trong lá cây [1]. Các tác giả Bauchop và Martucci (1968)[57], Kay và Davies (1994)[77], Kool (1993) [79], Isbell và cs (1999) [83] đều cho rằng cấu trúc dạ dày của khỉ ăn lá cho phép tách biệt giữa các môi trường kiềm và axit (có độ pH khác nhau) ở các phần khác nhau trong dạ dày. Tuy vậy, ống dạ dày riêng biệt với thực quản dọc theo bờ cong nhỏ của dạ dày có thể cho phép các phần thức ăn nhỏ và các dung dịch đi qua nhanh tới phần tuyến ngoại biên của dạ dày. Tỉ lệ thức ăn đi vào trong dạ dày – ruột bị tác động bởi các nhân tố như dung tích ruột, lượng thức 8 ăn vào, thành phần thức ăn và tốc độ ăn.
Cấu tạo kiểu rãnh xoắn và sự phát triển các cơ dọc, ngang của dạ dày tạo thuận lợi cho sự lưu thông thức ăn xơ cứng.2: Sơ đồ cấu tạo ống tiêu hóa của nhóm khỉ ăn lá Colobine Nguồn: Davies J. Tình trạng bảo tồn VQDDT có tên khoa học : Trachyphithecus delacouri (Osgood,1932) Tên thường gọi: Voọc mông trắng, Voọc quần đùi trắng, Vẹc khoang, Voọc Cúc Phương (Kinh), Tắc rộc (Mường), Tay dáo (Dao). Loài VQĐT được xếp hạng cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ Thế giới (IUCN, 2022) (hình 1. Chúng là 1 trong 5 loài linh trưởng đặc hữu và cực kỳ nguy cấp của Việt Nam (Nadler, 2020) [97] và có tên trong danh sách 25 loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp hàng đầu thế giới - đã được IUCN đánh giá từ năm 2000 (Christoph et al.
Các loài linh trưởng ở Việt Nam nằm trong nhóm “Cực kỳ nguy cấp” Nguồn: Jonathan Charles Eames - et al, 2016 [11]. Theo các văn bản pháp luật Việt Nam quy định, VQĐT là loài nằm trong danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ (Phụ lục I- Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ và Phụ lục I- ghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ). Theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ đây là những loài động vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng, bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại (được xếp hạng vào loài động vật thuộc nhóm I – Phụ lục I) 1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu về VQĐT 1.
Kích thước quần thể và phân bố của Voọc quần đùi trắng Theo Nadler (2015) [96], VQĐT chỉ phân bố trong một khu vực hẹp thuộc Bắc Việt Nam với diện tích khoảng 5.000 km2, giữa 20 - 210 vĩ Bắc và 105 -1060 kinh Đông. Vùng phân bố của loài này kéo dài trên dãy núi đá vôi nối liền giữa các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Nam, Thanh Hóa và Hà Nội (Hà Tây cũ). Ranh giới phân bố của loài này ở phía Tây Bắc là huyện Mai Châu giữa phía Bắc sông Đà tới Nam sông Mã. Khu vực phân bố của VQĐT trong tự nhiên Nguồn: Nadler, 2012[94, 95] Ghi chú: Các số và chữ cái là ký hiệu nơi ghi nhận có VQĐT phân bố, ký hiệu ô vuông và màu đỏ tươi là những nơi VQĐT đã tuyệt chủng.
Các địa điểm còn VQĐT sinh sống gồm: PL (Pù Luông), CP (Cúc Phương), BS (Bỉm Sơn), YD (Yên Đồng), CT (Chùa Tiên), KB (Kim Bảng) và khu BTTNĐNN Vân Long bao gồm GV- (khu vực Gia Viễn), HT - (Hang Tranh) và DQ - (Đồng Quyển). 11 Hà Đình Đức (1991a; 2004) [17], Hà Đình Đức và Nguyễn Vĩnh Thanh (2005) [16] ghi nhận VQĐT tại Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An. Nadler (1998, 2002, 2007) [90, 91, 93] và Nadler et al. (2015) [96] ghi nhận loài này có tại 5 tỉnh là Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá, Hà Nam, Hà Tây, và nêu ra một số nơi nghi vấn ở Sơn La, Yên Bái, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Hà Thăng Long (2001) [104], Baker (1999) [58], Lương Văn Hào (1999, 2000) [84], Trần Đình Nghĩa và Vũ Công Qùy (2004) [40] báo cáo về kết quả khảo sát VQĐT tại một số vị trí phân bố nêu trên và ghi nhận chúng còn sinh sống ở Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình. Theo kết quả nghiên cứu của hội động vật học Fankfurt tại Việt Nam (FZS) [84, 93, 94], trong 9 năm (từ 2002 - 2011) sự suy giảm số lượng khu vực phân bố của loài VQĐT diễn ra rất mạnh. Cụ thể, năm 2002 đã xác định được 19 địa điểm có mặt của loài VQĐT nhưng đến năm 2011 chỉ còn ở khoảng 13 địa điểm. Năm 2002, ước tính tổng số cá thể của loài này còn lại trong tự nhiên là 281 - 317 cá thể, 50 - 57 đàn, nhưng đến năm 2011, ước tính chỉ còn khoảng 210 - 245 cá thể, được phân bố rải rác, bị chia cắt thành 29 - 31 đàn [93,96].
Tình trạng các quần thể Voọc quần đùi trắng ở Việt Nam Nhóm / Cá Tổng số Nhóm /Cá thể Stt Địa phương thể phỏng Nhóm/ Cá thể ghi nhận vấn ước tính 1 Vườn quốc gia Cúc Phương 2/3-4 1/7-9 2/10-13 2 Dãy núi Yên Mô – Ninh Bình -/- 2 / >10 2 / <10 3 Dãy núi Bỉm Sơn – Thanh Hoá 1/3 3-4/ 3 / <10 4 Khu bảo tồn thiên nhiên Hoa Lư -/- 1/3-5 1/3-5 5-6-7 Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long 16-19/130-140 -/- 16-19/130-140 5-6-7 Khu vực mở rộng Vân Long 5/- 6/34-51 6/34-51 8 Khu rừng Kim Bảng 1 / 4-6 7/ 24-32 7 / 24-32 9 Di tích lịch sử văn hóa Hương Sơn -/- 1 / 3-4 1 / 3-5 10-11 Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông -/- -/10 -/10 Tổng cộng 25-29/140-153 21/91-121 37/234-276 Nguồn: Nader, 2015 [96] 12 Việc theo dõi các quần thể được thực hiện sau năm 2000 cho thấy sự suy giảm liên tục nghiêm trọng của một số quần thể con. Hai quần thể quan trọng ở VQG Cúc Phương và khu BTTN Pù Luông đã giảm số lượng 20% trong 5 năm (2000–2004) (Nguyễn Văn Linh, et al 2019)[88]. Quần thể ở khu BTTN Ngọc Sơn đã tuyệt chủng (Nadler và cs, 2007) [93]. Theo Nadler, (2015) [96] có tới 9 quần thể con đã bị tuyệt chủng chỉ trong một thập kỷ (từ 2000 đến 2010) Trong tổng số 20 cuộc điều tra đã được thực hiện từ năm 2012 đến năm 2015 bởi Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp (EPRC) và Đại học Lâm nghiệp Hà Nội để xác minh tình trạng hiện tại của loài.
Kết quả của các cuộc điều tra ở tất cả các nhóm cá thể đã biết cho thấy, sự sụt giảm về số lượng của các nhóm cá thể VQĐT đáng kể so với thập kỷ trước. Tổng số lượng ước tính hiện tại khoảng 234 - 276 cá thể. Trong số đó, phần lớn số cá thể tồn tại ở KBTTNĐNN Vân Long và nếu quần thể của khu bảo tồn kết hợp với khu vực mở rộng quy hoạch liền kề để tính thành một quần thể lớn thì tổng số cho khu vực Vân Long khoảng 164 - 191 cá thể, 70 - 84 số cá thể còn lại xuất hiện ở 7 khu vực bổ sung (Bảng 1. Các khu vực ngoài Vân Long, hầu hết là những quần thể nhỏ lẻ và rải rác, rất khó để quy tụ và phát triển thành những quần thể lớn hơn trong thời gian tới [96, 97].
Biến đổi kích thước quần thể Voọc quần đùi trắng ở khu BTTNĐNN Vân Long từ 1999 đến 2018. Năm Số nhóm Số cá thể Tổ chức khảo sát 1999 ? 45-47 Frankfurt Zoological Society 2000 ?