Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang gia tăng với tần suất và cường độ chưa từng có trong lịch sử khí tượng. Báo cáo của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) chỉ ra rằng nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng khoảng 0,6°C, kéo theo sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Tại Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5°C và mực nước biển dâng thêm 20 cm. Theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình tại nước ta có thể tăng tới 2,3°C, đe dọa trực tiếp 10% đến 12% dân số và gây nguy cơ tổn thất khoảng 10% GDP quốc gia.

Tại khu vực miền núi phía Bắc, xã Y Can thuộc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là địa bàn đặc thù chịu tác động nặng nề bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan. Nằm bên hữu ngạn sông Hồng với chiều dài chảy qua 4,5 km và bị chia cắt bởi suối Gùa cùng hệ thống đồi núi dốc, địa phương thường xuyên đối mặt với lũ quét, sạt lở đất, rét hại và hạn hán gay gắt. Toàn xã có 956 hộ với 3.356 nhân khẩu, trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 24,7% (236 hộ). Đời sống người dân phụ thuộc chủ yếu vào 275,21 ha đất nông nghiệp và canh tác lâm nghiệp, khiến mức độ tổn thương sinh kế trước thiên tai là rất lớn.

Luận văn thạc sĩ Công tác xã hội của tác giả Lê Hồng Phương tập trung phân tích thực trạng nhận thức, hậu quả và năng lực ứng phó của người dân tại xã Y Can trong giai đoạn nghiên cứu từ tháng 4/2014 đến tháng 10/2014, kết hợp hồi cứu chuỗi số liệu khí hậu 20 năm (1992–2012). Công trình hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện nguồn lực nội sinh, từ đó xây dựng mô hình liên kết cộng đồng bền vững nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai và nâng cao năng lực tự phục hồi cho người dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng ba hệ thống lý thuyết nền tảng của khoa học xã hội và công tác xã hội:

Lý thuyết hệ thống của Ludwig von Bertalanffy: Xem xét cộng đồng xã Y Can như một đại hệ thống thống nhất, được cấu thành bởi các tiểu hệ thống tương tác qua lại mật thiết gồm chính quyền địa phương, hộ gia đình, trạm y tế, trường học, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên. Mọi sự mất cân bằng hay biến động tiêu cực từ môi trường tự nhiên lên một tiểu hệ thống đều tác động đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của địa phương.

Lý thuyết phát triển cộng đồng dựa vào cộng đồng: Vận dụng luận điểm của Philip Mendes và các nhà nghiên cứu phát triển cộng đồng, nghiên cứu nhấn mạnh nguyên tắc tiếp cận từ dưới lên (bottom-up) và trao quyền (empowerment). Quá trình ứng phó với thiên tai chỉ đạt hiệu quả bền vững khi xuất phát từ chính nhu cầu thực tế, phát huy tối đa nguồn lực nội sinh và tri thức bản địa của 956 hộ dân thay vì áp đặt mô hình hỗ trợ thụ động từ bên ngoài.

Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow: Phân tích động cơ hành động của người dân trong thảm họa. Nhu cầu bảo đảm an toàn tính mạng và an ninh lương thực (thuộc tầng nhu cầu sinh học và an toàn) là điều kiện tiên quyết. Khi được bảo đảm các nhu cầu nền tảng này, người dân mới có động lực tham gia liên kết nhóm, học hỏi kỹ thuật mới và phát huy năng lực tự quyết trong phòng chống thiên tai.

Các khái niệm công cụ then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Thời tiết cực đoan (TTCĐ), Biến đổi khí hậu (BĐKH), Liên kết cộng đồng, Phát triển cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (CBDRM).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu: Kết hợp đồng bộ nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo khí tượng thủy văn trạm Yên Bái (1992–2012), văn bản chỉ đạo phòng chống lụt bão của huyện Trấn Yên và hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa năm 2014.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả phát 200 phiếu khảo sát cấu trúc theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống tại các buổi sinh hoạt cộng đồng của 12 thôn thuộc xã Y Can, thu về 197 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 98,5%). Cỡ mẫu này bảo đảm tính đại diện cao cho cả 3 tiểu vùng sinh thái: vùng đồi thấp ven sông Hồng (chiếm 65,9% dân cư người Kinh) và vùng núi cao hiểm trở (chiếm 31,9% dân cư người Dao Quần Chẹt).

Phương pháp thu thập định tính: Tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu (IDI) với lãnh đạo UBND xã, cán bộ địa chính - nông nghiệp, già làng, trưởng bản trên 35 tuổi giàu kinh nghiệm; tổ chức 01 cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD) gồm 8 đại biểu đại diện cho chính quyền, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và Tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision).

Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để xử lý thống kê mô tả, phân tích tần số, bảng chéo, kết hợp ma trận SWOT và phân tích các bên liên quan. Phương pháp kiểm tra chéo (triangulation) giữa định lượng, định tính và dữ liệu quan trắc khí tượng được áp dụng triệt để nhằm loại trừ sai số hồi tưởng, bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng biến động thời tiết cực đoan: Chuỗi số liệu hồi cứu 20 năm xác nhận tính chất dị thường của khí hậu tại Y Can. Nhiệt độ mùa nóng thường xuyên chạm ngưỡng 37°C đến 40°C, trong khi mùa lạnh kéo dài từ 115 đến 125 ngày với nhiều đợt rét đậm, rét hại dưới 10°C kèm sương muối. Lượng mưa trung bình đạt 1.200 mm/năm nhưng phân bổ cực kỳ mất cân đối: mùa khô lượng mưa chỉ đạt khoảng 52,5 mm/tháng gây kiệt quệ nguồn nước suối Gùa, ngược lại các tháng cao điểm mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9) lượng mưa lên tới 149,8 mm đến 294,9 mm/tháng gây lũ quét và ngập úng nghiêm trọng.

Thiệt hại nặng nề đến sinh kế nông nghiệp: Hơn 80% hộ gia đình được điều tra khẳng định các hiện tượng cực đoan làm suy giảm năng suất cây trồng và gia súc. Nghề trồng lúa chịu tổn thất lớn nhất khi 100% diện tích ven sông Hồng đối mặt nguy cơ ngập trắng trong các đợt mưa bão lớn như cơn bão năm 2008 và 2012. Đối với nghề nuôi lợn, môi trường ẩm ướt và nguồn nước suối Gùa bị ô nhiễm sau mưa lũ làm bùng phát dịch bệnh, đẩy tỷ lệ hao hụt đàn gia súc lên trên 30% tại các thôn vùng trũng.

Tính tự phát và sự phân mảnh trong ứng phó: Kết quả điều tra chỉ ra rằng phần lớn người dân vẫn ứng phó theo kinh nghiệm cá nhân đơn lẻ. Có tới 78,5% hộ gia đình tự tôn cao nền nhà, đắp bờ bao hoặc di chuyển tài sản mà thiếu sự phối hợp liên gia. Các nguồn lực cộng đồng sẵn có chưa được tổ chức bài bản; sự phối hợp giữa chính quyền xã, các tổ chức đoàn thể và người dân còn mang tính tình thế, chủ yếu tập trung vào giai đoạn khắc phục hậu quả thay vì phòng ngừa chủ động.

Sự mai một của tri thức bản địa: Cộng đồng người Dao Quần Chẹt tại 4 thôn vùng cao (Minh An, An Phú, An Thành, An Hòa) sở hữu kho tàng kinh nghiệm phong phú như quan sát cây nổ hoa trắng dự báo đỉnh lũ sông, các bài cúng kiêng gió, kiêng rừng để bảo vệ thảm thực vật đầu nguồn. Tuy nhiên, trước sức ép khai thác tài nguyên và sự xuất hiện của tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai dài 4 km chạy qua địa bàn, nhiều tập tục bảo vệ rừng truyền thống đã bị suy giảm đáng kể.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến xã Y Can dễ bị tổn thương trước thiên tai là sự thiếu hụt cơ chế liên kết đồng bộ giữa các tiểu hệ thống. Tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai khi thi công đã tạo thành bờ cản tự nhiên, làm chậm tốc độ thoát lũ tại các thôn Hạnh Phúc, Thắng Lợi và Hòa Bình, khiến thời gian ngập úng kéo dài thêm từ 2 đến 3 ngày so với giai đoạn trước năm 2010.

Dữ liệu nghiên cứu thực địa phản ánh rõ nét sự phân hóa mức độ tổn thương, vốn có thể được trình bày một cách trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ thiệt hại hoa màu giữa 3 tiểu vùng cảnh quan: vùng ven sông chịu ngập úng 65%, vùng núi cao chịu nguy cơ lũ quét và sạt lở 45%, vùng đồi trung tâm chịu hạn hán 38%. Đồng thời, bảng ma trận đánh giá năng lực cộng đồng cho thấy người dân sở hữu nguồn vốn xã hội (tình làng nghĩa xóm, dòng họ) rất cao nhưng thiếu hụt nguồn vốn vật chất và kỹ thuật phòng ngừa.

So sánh với các nghiên cứu khí tượng khu vực Đông Nam Á của Phan Văn Tân và báo cáo SREX Việt Nam, các kết quả tại Y Can hoàn toàn tương thích về xu thế gia tăng các hiện tượng khí hậu cực trị. Điểm đóng góp nổi bật của luận văn là đã chứng minh: rủi ro thiên tai không đơn thuần là bài toán khí tượng học, mà là vấn đề xã hội cần giải quyết bằng công cụ gắn kết cộng đồng và phương pháp quản lý rủi ro thiên tai có sự tham gia (CBDRM).

Đề xuất và khuyến nghị

Thành lập Mạng lưới liên kết phòng ngừa rủi ro thiên tai cấp cơ sở: Xây dựng Đội phản ứng nhanh tại 12 thôn bản dưới sự điều phối trực tiếp của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai xã và các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên). Mục tiêu rút ngắn 50% thời gian chuyển phát tin tức cảnh báo lũ quét dọc suối Gùa đến từng hộ dân, hoàn thành thiết lập trong vòng 6 tháng. Chủ thể thực hiện: UBND xã Y Can và các trưởng thôn.

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng khí hậu: Đưa vào thử nghiệm và nhân rộng các giống lúa ngắn ngày chịu ngập, mở rộng diện tích trồng ngô, khoai xen canh trên đất dốc; phát triển đàn lợn đen bản địa có sức đề kháng cao kết hợp mô hình đệm lót sinh học khử mùi và chống rét. Target metric: 80% hộ chăn nuôi và trồng trọt áp dụng kỹ thuật mới, giảm 60% thiệt hại kinh tế do dịch bệnh sau lũ trong lộ trình 12 tháng. Chủ thể thực hiện: Trạm Khuyến nông huyện Trấn Yên phối hợp Tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision).

Khôi phục và tích hợp tri thức bản địa vào quy chế quản lý rừng: Ban hành hương ước thôn bản lồng ghép các phong tục truyền thống của đồng bào Dao (bảo vệ nguồn nước mó, cấm chặt cây rừng đầu nguồn) với quy định pháp luật về bảo vệ rừng. Tổ chức 04 lớp truyền thông nâng cao nhận thức mỗi năm cho 100% người dân tại 4 thôn vùng cao; thực hiện liên tục định kỳ hàng quý. Chủ thể thực hiện: Hội Người cao tuổi, Chi hội Nông dân và Ban Lâm nghiệp xã.

Cải tạo hạ tầng thoát lũ và nạo vét dòng chảy: Nạo vét toàn diện 4,5 km suối Gùa và mở rộng hệ thống cống tiêu thoát nước dưới chân tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Mục tiêu bảo đảm tiêu thoát 90% lượng nước lũ cực đoan trong vòng 24 giờ, ngăn chặn tình trạng ngập úng cục bộ tại các thôn Hạnh Phúc, Hòa Bình; tiến độ thực hiện trong 18 tháng. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Trấn Yên, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Yên Bái phối hợp Ban Quản lý đường cao tốc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý Nhà nước và chính quyền cơ sở: Cung cấp cơ sở khoa học và bài học thực tiễn quý giá cho cán bộ UBND cấp xã, huyện miền núi trong việc xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu theo Quyết định 158/2008/QĐ-TTg và triển khai Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 tại địa phương.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Công tác xã hội, Xã hội học: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về ứng dụng lý thuyết hệ thống và phương pháp phát triển cộng đồng trong lĩnh vực môi trường; cung cấp khung phân tích thực chứng cho các đề tài nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương và sinh kế bền vững.

Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị phát triển quốc tế: Cung cấp nguồn dữ liệu thực địa tin cậy giúp các tổ chức như World Vision, Oxfam, UNDP thiết kế các chương trình tài trợ sinh kế, tập huấn kỹ năng quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (CBDRM) cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.

Ban điều hành thôn bản, hợp tác xã và người dân vùng nguy cơ cao: Cung cấp cẩm nang thực hành về quy trình tổ chức tổ hợp tác tự quản, phương pháp áp dụng đệm lót sinh học, chuyển đổi giống cây trồng và kỹ năng huy động sức mạnh xóm làng khi đối mặt với lũ quét, bão lớn.

Câu hỏi thường gặp

Lý thuyết hệ thống đóng vai trò gì trong việc giải thích năng lực ứng phó thiên tai tại xã Y Can?

Lý thuyết hệ thống giúp phân tích cộng đồng xã Y Can như một chỉnh thể thống nhất gồm nhiều tiểu hệ thống phụ thuộc lẫn nhau. Khi thiên tai tấn công, nếu hộ gia đình, trạm y tế, trường học và chính quyền phối hợp chặt chẽ, chia sẻ nguồn lực thì khả năng chống chịu của toàn bộ 956 hộ dân sẽ tăng lên gấp nhiều lần so với các biện pháp tự phát riêng lẻ.

Những hiện tượng thời tiết cực đoan nào gây thiệt hại lớn nhất cho người dân xã Y Can?

Địa bàn xã chịu tổn thất nặng nề nhất từ 4 hiện tượng chính: nắng nóng gay gắt trên 37°C gây hạn hán mùa khô làm cạn kiệt suối Gùa; các đợt mưa lớn tập trung 149,8–294,9 mm/tháng gây lũ quét, ngập úng ven 4,5 km sông Hồng; rét hại kéo dài tới 125 ngày và lốc xoáy cục bộ tàn phá mùa màng, hoa màu.

Tri thức bản địa của người Dao Quần Chẹt có giá trị thực tiễn như thế nào trong phòng chống thiên tai?

Đồng bào Dao (chiếm 31,9% dân số) sở hữu kho tàng kinh nghiệm dân gian đặc sắc, tiêu biểu như nhận biết hiện tượng cây nổ nở hoa trắng để dự báo thời điểm nước lũ sông dâng cao, duy trì ngày kiêng gió và các hương ước bảo vệ rừng đầu nguồn linh thiêng, giúp giữ nguồn nước ngọt và ngăn chặn sạt lở đất đồi hiệu quả.

Sự xuất hiện của tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai tác động ra sao đến tình trạng ngập úng?

Đoạn 4 km cao tốc chạy qua xã với nền đường đắp cao đã vô tình trở thành đê chắn ngăn dòng thoát lũ tự nhiên. Khi mưa lớn kéo dài, nước từ suối Gùa đổ về sông Hồng bị ứ đọng nghiêm trọng, làm thời gian ngập úng tại các thôn Hạnh Phúc, Thắng Lợi và Hòa Bình kéo dài thêm 2 đến 3 ngày so với trước.

Mô hình đệm lót sinh học kết hợp nuôi lợn đen mang lại hiệu quả gì trước biến đổi khí hậu?

Mô hình đệm lót sinh học do Tổ chức Tầm nhìn Thế giới tập huấn giúp chuồng trại luôn khô ráo, giữ ấm đàn lợn trong các đợt rét hại dưới 10°C và hạn chế tối đa vi khuẩn gây dịch bệnh sau mùa mưa lũ. Giống lợn đen bản địa có sức chống chịu dẻo dai giúp bảo toàn sinh kế và tạo thu nhập ổn định cho 24,7% hộ nghèo.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về tác động tiêu cực của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến 956 hộ dân tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái qua chuỗi số liệu 20 năm.
  • Chứng minh tính cấp thiết của việc chuyển đổi từ phương thức ứng phó tự phát, cục bộ sang mô hình liên kết các tiểu hệ thống cộng đồng theo phương pháp Công tác xã hội chuyên nghiệp.
  • Khẳng định giá trị to lớn của việc tích hợp tri thức bản địa của 31,9% đồng bào Dao Quần Chẹt với các giải pháp kỹ thuật nông nghiệp thích ứng hiện đại như mô hình VAC và đệm lót sinh học.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, sinh kế, văn hóa và hạ tầng tiêu thoát nước dọc 4,5 km suối Gùa và tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc thực thi Chiến lược Quốc gia phòng chống giảm nhẹ thiên tai và Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp cơ sở.

Lộ trình tiếp theo hướng tới việc hoàn thiện thể chế hóa mô hình Đội phản ứng nhanh tại 12 thôn bản trong giai đoạn 2015–2020 và nhân rộng mô hình ra toàn huyện Trấn Yên.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và sinh viên hãy tham khảo, trích dẫn và ứng dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn thạc sĩ này nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các hành động thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trên khắp mọi miền đất nước!