MỞ ĐẦU Ngày nay, ô nhiễm môi trƣờng đang trở thành vấn đề toàn cầu. Một trong những tác nhân ô nhiễm nƣớc đó là các hợp chất hữu cơ, đặc biệt là hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV). Việt Nam đƣợc đánh giá là một nƣớc bị ô nhiễm cao hơn hẳn các nƣớc khác trong khu vực bởi Việt Nam là nƣớc nông nghiệp (có đến 2/3 ngƣời dân làm nông nghiệp) việc lạm dụng quá mức hoá chất BVTV trong nông nghiệp đang gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, trong chiến tranh chống Mỹ, miền Nam Việt Nam bị phun rải một lƣợng lớn thuốc diệt cỏ gồm các chất nhƣ 2,4-D và 2,4,5-T có chứa dioxin.
Hiện nay, tồn lƣu của các hóa chất này vẫn rất cao ở các điểm nóng và đang đƣợc xem xét xử lý. Vì thế, luận án đã lựa chọn 2,4-D và 2,4,5-T làm chất ô nhiễm mục tiêu để thử nghiệm nghiên cứu xử lý trong môi trƣờng nƣớc. Gần đây, phƣơng pháp xúc tác quang TiO2 để xử lý hợp chất hữu cơ trong nƣớc đang gây đƣợc sự chú ý của các nhà khoa học. Tuy nhiên, với độ rộng vùng cấm khoảng 3,2 eV vật liệu TiO2 chỉ có thể cho hiệu ứng xúc tác trong vùng ánh sáng tử ngoại (UV) cỡ 388 nm.
Trong khi bức xạ UV chỉ chiếm khoảng 3-5% năng lƣợng mặt trời nên hiệu suất xúc tác quang ngoài trời thƣờng đạt kết quả không cao. Do vậy, các nghiên cứu đã tập trung vào biến tính vật liệu TiO2 bằng các kim loại hoặc phi kim nhằm mở rộng vùng hấp thụ của TiO2 về vùng ánh sáng khả kiến (loại bức xạ chiếm gần 45% năng lƣợng mặt trời). Mặc dù thế, các phƣơng pháp này cũng chƣa đem lại hiệu quả rõ rệt, vì vùng cấm hẹp của vật liệu TiO2 biến tính này đóng vai trò nhƣ các trung tâm tái kết hợp của electron và lỗ trống làm giảm hoạt tính xúc tác nhanh chóng. Hơn thế, đối với các loại vật liệu pha tạp kim loại hoặc phi kim thì khả năng oxi hóa của lỗ trống thƣờng bị giảm đi so với TiO 2 nguyên chất.
Do vậy, một trong các mục tiêu của luận án là điều chế loại xúc tác quang thế hệ mới trên cơ sở TiO2 biến tính oxit kim loại (CuO) nhằm giải quyết các hạn chế nêu trên là vấn đề nghiên cứu cần thiết. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một vấn đề khác, thƣờng gặp trong quá trình sử dụng xúc tác quang TiO2 là xúc tác ở dạng bột phải hòa vào trong dung dịch khi phản ứng, làm giảm khả năng hấp thụ ánh sáng kích thích của hạt xúc tác quang và khó tách ra sau phản ứng. Đó là rào cản gây khó khăn cho việc xây dựng mô hình công nghệ để xử lý, làm hạn chế khả năng ứng dụng của xúc tác quang TiO2 trong xử lý môi trƣờng, đặc biệt trong lĩnh vực xử lý nƣớc. Do vậy, việc tìm ra phƣơng thức phủ xúc tác quang lên các bề mặt vật liệu mang để xử lý chất ô nhiễm là một giải pháp cần thiết, sẽ là tiền đề để mở rộng các ứng dụng của xúc tác quang TiO2 trong cuộc sống.
Đặc biệt hơn, Việt Nam thuộc vùng cận nhiệt đới có nguồn năng lƣợng mặt trời cao, nên việc áp dụng vật liệu xúc tác quang thế hệ mới (co- photocatalyst) trên cơ sở TiO2 vào xử lý môi trƣờng là một lợi thế quan trọng. Trên cơ sở những vấn đề nêu trên, đề tài luận án “Nghiên cứu ứng dụng vật liệu CuO/TiO2 nhằm xử lý hợp chất hữu cơ 2,4-D trong môi trƣờng nƣớc” đã đƣợc lựa chọn. Việc thực hiện đề tài nhằm các mục tiêu: - Nghiên cứu tổng hợp xúc tác quang TiO2 thế hệ mới CuO/TiO2 (co- photocatalysts) có hoạt tính phân hủy hợp chất BVTV cơ-clo trong nƣớc. - Nghiên cứu, phủ xúc tác quang CuO/TiO2 (coating) lên bề mặt vật liệu mang, ứng dụng xử lý hợp chất cơ-clo trong nƣớc bằng ánh sáng mặt trời.
- Đề xuất mô hin ̀ h công nghệ xử lý nƣớc ô nhiễm hợp chất BVTV bằng vật liệu xúc tác quang sử dụng nguồn ánh sáng mặt trời. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Các kết quả đạt đƣợc của đề tài, kỳ vọng góp một phần nhỏ vào kho kiến thức phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng công nghệ xử lý môi trƣờng. Việc thực hiện đề tài sẽ làm rõ hơn cơ chế phân hủy 2,4-D trong nƣớc bằng xúc tác quang TiO2 biến tính, đồng thời góp phần tiếp cận hƣớng nghiên cứu mới trong việc xử lý tồn dƣ các hóa chất BVTV trong môi trƣờng. Các số liệu thu đƣợc có thể mở ra một hƣớng cho công tác xử lý hóa chất 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BVTV nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý cấp thiết tại các điểm nóng ở Việt Nam.
Những đóng góp mới của luận án 1. Đã tổng hợp đƣợc hệ vật liệu đồng xúc tác quang CuO/TiO2 (dạng composite) kết quả đƣợc khẳng định bằng các phƣơng pháp vật lý hiện đại đáng tin cậy nhƣ XPS, tán xạ Raman, SEM, HR-TEM, UV-VIS. Đã chỉ rõ dạng tồn tại của đồng trên TiO2 chủ yếu là Cu2+ (CuO) và biện luận cơ chế hoạt động của xúc tác CuO/TiO2. Đồng thời khẳng định vai trò của CuO chủ yếu là ngăn cản quá trình tái kết hợp của electron và lỗ trống, làm hoạt tính xúc tác quang đƣợc cải thiện.
Đã chứng minh đƣợc vật liệu đồng xúc tác CuO/TiO2 có khả năng xúc tác quang phân hủy 2,4-D qua các bƣớc hyroxyl hóa nhân phenyl thay thế các nhóm clo tạo ra các hợp chất trung gian xác định, sản phẩm cuối cùng là CO2 và nƣớc. Đã áp dụng công nghệ chế tạo lớp phủ xúc tác trên chất mang, xác định đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả của lớp phủ xúc tác nhƣ: Chọn vật liệu mang, số lớp phủ xúc tác phù hợp, sự cần thiết của sục khí, tốc độ sục khí, thời gian sử dụng lặp lại,… làm cơ sở cho mô hình thử nghiệm xử lý nƣớc ô nhiễm 2,4-D bằng ánh sáng mặt trời. ------------------------------- 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về xúc tác quang TiO2 Phần này trình bày cấu trúc, tính chất quang của vật liệu TiO2 tinh khiết, biến tính kim loại, biến tính phi kim và ứng dụng của xúc tác quang TiO2 trong xử lý môi trƣờng.
Phần này cũng trình bày cơ chế xúc tác quang của các loại vật liệu trên, ảnh hƣởng của các nguyên tố biến tính lên cấu trúc và dải năng lƣợng vùng cấm của vật liệu, nhằm hiểu rõ hơn tác dụng của việc biến tính TiO2 bằng oxit kim loại. Giới thiệu vật liệu TiO2 TiO2 trong tự nhiên tồn tại ba dạng thù hình khác nhau là rutile, anatase và brookite (hình 1. Cả ba dạng tinh thể này đều có chung một công thức hóa học TiO2, tuy nhiên cấu trúc tinh thể của chúng là khác nhau. Hằng số mạng, độ dài liên kết Ti-O, và góc liên kết của ba pha tinh thể đƣợc trình bày trong bảng 1.
Đặc tính cấu trúc của các dạng thù hình TiO2 [29]. Anatase Rutile Brookite Hệ tinh thể Tetragonal Tetragonal Orthorhombic a=5,45 a=3,78 a=4,59 Hằng số mạng (Å) b=9,18 c=9,52 c=2,96 c=5,15 Nhóm không gian I41/amd P42/mnm Pbca Số đơn vị công thức 4 2 8 Thể tích ô cơ sở (Å3) 136,27 62,43 257,63 Khối lƣợng riêng (kg/m3) 3,89 4,25 4,13 1,95 (17) 1,94 (17) Độ dài liên kết Ti-O (Å) 1,87~2,04 1,98 (15) 1,97 (15) 81,2o 77,7o Góc liên kết Ti-O-Ti (°) 77,0o~105o 90o 92,6o 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cả hai pha giả bền chuyển thành pha rutile khi vật liệu đƣợc nung ở nhiệt độ trên 700 ᴼC [26] (915ᴼC cho pha anatase và 750ᴼC cho pha brookite). Một số tác giả cũng thấy ở nhiệt độ 500ᴼC pha anatase bắt đầu chuyển sang pha rutile trong các quá trình xử lý nhiệt [27].
Các dạng thù hình khác nhau của TiO2: (A) rutile, (B) anatase, (C) brookite.1 cho thấy cấu trúc mạng lƣới tinh thể của rutile, anatase và brookite đều đƣợc xây dựng từ các đa diện phối trí tám mặt (octahedra) TiO 6 nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxy chung. Mỗi ion Ti+4 đƣợc bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O2-. Các mạng lƣới tinh thể của rutile, anatase và brookite khác nhau bởi sự biến dạng của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết giữa các octahedra. Pha rutile và anatase đều có cấu trúc tetragonal lần lƣợt chứa 6 và 12 nguyên tử tƣơng ứng trên một ô đơn vị.
Trong cả hai cấu trúc, mỗi cation Ti +4 đƣợc phối trí với sáu anion O2-; và mỗi anion O2- đƣợc phối trí với ba cation Ti+4. Trong mỗi trƣờng hợp nói trên, khối bát diện TiO6 bị biến dạng nhẹ, với hai liên kết Ti-O lớn hơn một chút so với bốn liên kết còn lại và một vài góc liên kết 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lệch khỏi 90o. Sự biến dạng này thể hiện trong pha anatase rõ hơn trong pha rutile. Khối bát diện (octahedra) của TiO2 [29] Mặt khác, khoảng cách Ti-Ti trong anatase lớn hơn trong rutile nhƣng khoảng cách Ti-O trong anatase lại ngắn hơn so với rutile.
Điều này ảnh hƣởng đến cấu trúc điện tử của hai dạng tinh thể, kéo theo sự khác nhau về các tính chất vật lý và hóa học. Cấu trúc tinh thể của TiO2: (A) rutile, (B) anatase, (C) brookite 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự gắn kết giữa các octahedra của hai pha rutile và anatase đƣợc mô tả nhƣ hình 1. Pha rutile có độ xếp chặt cao nhất so với hai pha còn lại, các khối bát diện xếp tiếp xúc nhau ở các đỉnh, hai khối bát diện đứng cạnh nhau chia sẻ hai cạnh chung và tạo thành chuỗi, do vậy pha rutile có khối lƣợng riêng 4,25 kg/m3. Với pha anatase, các khối bát diện tiếp xúc cạnh với nhau, trục c của tinh thể kéo dài ra và có khối lƣợng riêng là 3,89 kg/m3.
TiO2 anatase không biến tính là một chất cách điện dị hƣớng có cấu trúc tetragonal (a=3,78 Å ; c=9,52 Å) có hằng số điện môi tĩnh là 31. Tính chất của các dạng thù hình TiO2 [29]. Khối lƣợng riêng Độ rộng vùng cấm Chiết quang (g/cm3) (eV) Anatase 2,490 3,89 3,20 Rutile 2,903 4,25 3,00 Pha brookite có cấu trúc orthorhombic với đối xứng 2/m 2/m 2/m và nhóm không gian Pbca. Ngoài ra, độ dài của liên kết Ti-O cũng khác nhiều so với các pha anatase và rutile, cũng nhƣ góc liên kết O-Ti-O [28].
Có rất ít tài liệu nghiên cứu về pha brookite. Tất cả các dạng tinh thể đó của TiO2 tồn tại trong tự nhiên dƣới dạng các khoáng, nhƣng chỉ có rutile và anatase ở dạng đơn tinh thể là đƣợc tổng hợp ở nhiệt độ thấp.