chương 1 'CHƯƠNG 2: - Nghiên cứu cơ sở lý thuyết tinh toán kết cấu túi vải địa kỹ thuật ~ Lý thuyết ôn định của khối đắp trên nền đất yếu. ~ Tính toán ôn định khối đắp có cốt địa kỹ thuật ~ Tính toán ôn định kết cấu túi vải địa kỹ thuật. - Két luận chương 2 CHUONG 3: - Ứng dụng tính toán công trình dé biển Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, ~ Giới thiệu công trình. ~ Phân tích điều kiện công trình và tai trọng.
~ Đề xuất kết cấu khối đắp thân đê có sử dụng túi vải địa kỹ thuật. ~ Mô hình hóa bài toán ứng dung, ~ Kết quả tính toán và bản luận. luận chương 3 KET LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ: ~ Một số điểm còn tổn tại. ~ Hướng nghiên cứu tiếp theo.
CHUONG I TONG QUAN CÁC GIẢI PHÁP. GIÁ CƯỜNG ĐỊA KỸ THUẬT Giới thiệu chung: 1. Téng quan: Việt Nam có đường bở biển chạy dọc chiều dai đất nước từ Bắc đến Nam. Những nguồn lợi mà biển mang lại cho đất nước và con người là vô.
cùng to lớn. Nhưng bên cạnh những nguồn lợi thu được từ biên thì con người nơi đây luôn phải đối mặt với những mỗi de dọa tiềm ấn cũng do biển mang. Dé biển là công trình ven bién làm nhiệm vụ bảo vệ các khu dân cư, các vùng đắt canh tác nhằm trắnh cho những khu vực này bị ảnh hus tự bởi các tác động của nước biển khi có bão hoặc triều cường. Khi nước bién tràn vào trong đồng sẽ gây thiệt hại về tính mạng, tải sản của nhân dân, làm nhiễm mặn hệ thống đất canh tác, phá hủy làng mạc và hoa màu.
Vi vậy trong mọi trường hợp , vấn đề đảm bảo an toàn đê biển nói riêng và hệ thống đê ói chung là đảm bảo an toàn về dân sinh, kinh tế, an ninh quốc phòng. Các nước phát triển đã có nhiều đầu tư về nghiên cứu khoa học, công nghệ đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho dé biễn. Các giải pháp gia cường, bảo vệ dé biển trước kia có thé được bồ bỏ, thay mới bằng gi pháp công nghệ an toàn vững chắc hơn. Ở Vi + Nam cũng đã áp dụng nhiễu biện pháp gia cường, gia cố dé biển, tạo ra những chuyển biến tích cực trong vấn đề này.
Các phần tổng quan về gia cường dé biển trên thể giới và Việt Nam được trình bay sau đây sẽ cho toàn cảnh về cái tiến công nghệ cũng như những tổn tại về kỹ thuật. Từ đó sẽ phân tích, đánh giá rút ra được đề xuất khoa học công nghệ sao cho có tinh sắng tạo, tăng thêm mức độ an toàn, kinh tế.2 Hiện trạng đê biển Việt Nam: 1.1 Đề miền Bắc: Khu vực ven miền Bắc có dân cư tập trung đông và có nhiều trung tâm. kinh tế quan trọng, thêm vào đó, vùng khu vực này lại có địa hình là thấp. tring, vì vậy các tuyến đê đã được hình thành khá sớm.
Tổng chiều dài các tuyến đê biển và đê cửa sông hiện nay khoảng 750km, trong đó có khoảng. 490km dé trực điện vớibiển. Mặt cắt đê: Mặt cit để có dạng phổ biển là hình thang, b rộng mặt đê nhỏ, khoảng từ 3,0+5,0m, nhiều đoạn đê có bề rộng còn nhỏ hơn 3,0m như dé Bắc Cửa. Lục và Hoàng Tân-Quảng Ninh; các dé số 5,6,7 và 8 ~ Thái Bình; Cat Hải — Hai Phòng.
Mai phía bign có hệ số mái từ 224, mái phía ng từ 1,53. Cao trình đỉnh dé vào khoảng (+: )* 45. Địa chất và vật liệu dil ‘Dé thường nằm trên nề đ cát mịn pha đất thịt hoặc đất sét (loại đất phủ sa bd cửa sông), có sức chịu nén và cường độ chống cắt nhỏ, lượng ngậm nước lớn, dễ bị tác động phá hoại của sóng biển; tính nén lún và kéo dai, độ ‘én định là thấp. Dit đắp thân dé có các dạng: - Đất á sét, đất phù sa cửa sông, hàm lượng cát cảng tăng khi tuyển dé cảng xa cửa.
Một tuyến đê được đắp hoàn toàn bằng cát (như đê Hải Thịnh), bên. ngòa được bọc sét. Tuy nhiên cũng có một số đê không được bọc sét nên thường xuyên bj hao môn hư hỏng e Tình trang én định: Trong điều kiện khí tượng thủy văn bình thường (mực nước triều trung. bình đến cao, gió dưới cấp 7), mái dé chỉ xuất hiện hư hỏng cục bộ ở những đê ít được bảo vệ, it bị hư hỏng ở những dé được bảo vệ.
Riêng ving Hai Hậu ~ Nam Định , khi gió Đông Bắc, khi gió Đông Bắc cấp 6,7 duy trì trong thời gian đài, kết hợp triều cường, dé có kè lát mái bảo vệ vẫn bị hư hỏng nhiễu. Trong điều kiện khí tượng thủy văn không bình thường (mực nước triều trung bình hoặc cao, gió cấp 8 trở lên), đê xuất hiện nhiều hư hỏng ngay cả ở những mái đê được bảo vệ. Dé bị hư hỏng nặng sau những trận mưa bão, và phải mắt một khối lượng lớn nguyên vật liệu để khôi phục, đắp trả lại mai đề phía biển Như vậy Đề biển miễn bắc, ngay cá ở những đoạn đê được bảo vệ, hiện vẫn chưa đáp ứng được yêucầu kỹ thuậtvề ôn định vi cốt đất nên và thân để chưa được xử lý, là dat yếu, việc đê chỉ được bảo vệ phía ngoài là chưa đảm bảo. Dé được đắp bằng đất cát đến cát pha, nhiều khu vực đắp bằng sét pha.
Nền đất là cát mịn hoặc sét yếu.2 Đề miền Trung: Vang ven biến miễn Trung có diện tích nhỏ, hẹp lại trải dai, địa hình dốc và bị chia cắt bởi nhiều các sông, kênh rạch, vì vậy các tuyến đê thường ngắn. Day là vùng có biên độ thủy triều thấp nhưng lại thường xuyên chịu ảnh. hưởng của thiên tai, lũ lụt (mưa lũ trong đồng tràn qua đê, tác động từ biển do gió, bão, sóng và nước tràn). Tổng chiều dai dé hiện có khoảng 1.980km, trong đó dé trực diện với biển khoảng 610km.
a, Nặt cắt dé: Phần lớn mặt cất dé có dạng hình thang, cao trình thấp (thiếu tir 0,5+1,0m so với yêu cầu thi số mái I,5:3 b. Địa chất và vật liệu dip: ¬ iit đắp chủ yếu là dit sét pha cát nhẹ, một số tuyển nằm sâu so với cửa sông, ở ven các dim phá, đất thân đê là dat sét pha cát (đê Tả Thanh và My ‘Trung - Quảng Bình, dé Vĩnh Thị ~ Quảng Trị). Nhiều tuyết en biển có. thân dé là đất cát như ở ở các tuyến đề c huyện Quảng Xương, Tinh Gia- Thanh Hóa, Diễn Châu-Nghệ An, Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
Tinh trạng én định: Mắt cất đê khá nhỏ, nhiều tuyến đê chưa được bảo vệ nên thường. xuyên bị bảo môn, xói lở hoặc sat khi mưa lớn hoặc khi có sóng tràn qua. Nhiều tuyến dé bị đứt đoạn do nước lũ tran qua từ phía đồng ra phía biển. hư hỏng trên xảy ra nghiêm trọng hơn khi than dé được đắp bằng cát, cát pha.
‘hin chung tình trạng én định của dé biển miễn Trung là không cao, dễ bị ảnh hưởng hoặc hư hại do các tác động của các điều kiện khí tượng thủy hải văn. Nhiều tuyến đê phải đắp bù khi bị mưa lũ, hoặc sóng tràn qua, thậm. chí một số tuyến phải đắp di, đắp lại nhỉ: 1.3 Đề miền Nam: “Tuyến dé ven biển miền Nam ban đầu được hình thành ở dang bờ bao, 48 bảo vệ các khu dân cư, khu sản xuất chống ngập mặn, triều cường hoặc lũ nhỏ, sau đó qua nhiều lần đắp bù hình thành dé, Tổng chiều dai đê ving ven biến khoảng 590km, trong đó dé trực diện với biển khoảng 470km. DE biển miền Nam có sự khác nhau lớn về chiều cao và bé rộng mặt.
Có tuyến đê chỉ cao trên 1,0m nhưng có những tuyến dé cao từ 4,5m đến 5,0m. Mặt đê có tuyến chỉ rộng 1,5+2,0m, nhưng có những tuyến đê bề rộng. Về tổng quan, cao độ n phía Đông cao hon cao độ dé biển phía Tây. Mái dốc đê biển có hệ số mái phổ biến từ 2,0 đến 2,5, chỉ có tuyến đê quan trọng như đê Gò Công và dé Vũng Tàu mới có mái đốc bằng.
Dia chất và vật liệu diy Dit đắp đê hoàn toàn theo tính chất dat từng vùng, song chủ yếu là đất bồi tích có him lượng hạt min cao, bao gồm dat thịt nhẹ, thịt nặng, cát pha, cát, sét, sét pha cát, sét pha bùn, đất bùn nhão. Nhiều tuyển dé nằm trên nền cát có thành phần bùn trên 50% nên rit khó khăn cho việc dip đê, đặc biệt là những dé cao. Tinh trang én định: Đối với vùng bờ biển dn định hoặc vùng bờ. các hư hỏng đê thường là sat lở nhỏ ở mái đê phía biển do sóng, vì những đoạn đê này không có sóng (đề Ca Mau).
Ở những đoạn đề có nền yếu (nền bùn sét), hiện tượng hư hỏng đê xảy ra nhiều hơn, các dạng hư hỏng có: sụt lún, nứt, trượt, lún trồi, xói ngầm cơ học thân đê và nền đê.từ đây ta có thé thấy, nguyên nhân làm hư. hỏng đê biển miền Nam chủ yếu là do yếu t6 địa chat, khi đất đắp và nền đê. đều là đất yếu. Như vậy tình hình chung đê biển Việt Nam đa phan có tính ổn định chưa cao, dé bị hư hỏng.
Dat đắp đê và đất nền có thành phần và tính chất cơ lý thay đổi khá nhiều vì hầu hết vật liệu đắp đê là những vật liệu tại chỗ. Tổng quan các giải pháp gia cường địa kỹ thuật trong xây dựng đề bi 1.1 Vải địa kỹ thuật làm cốt chịu kéo trong thân dé Khi dip đê bằng những vật liệu dat ye chiều cao đắp không lớn, hệ số mái của đê phải rất lớn gây tốn kém, vì vậy phương pháp sử dung cốt vai địa kỹ thuật để gia cường cho thân dé giúp tăng hệ số dn định tổng thé, tăng chiều cao khối đắp, giảm hệ số mái dé. Vải địa ky thuật được bố trí thành nhiều lớp, và là phần chịu kéo chính trong đề. Phin đầu và đuôi vải được bắt ngược lên để làm bao bì cho lớp đất giữa hai lớp vải địa kỹ thuật, Ở phía biển phan vai bao bi này được kết hợp với tang bảo vệ chống sóng.
Phía đồng, phin bao bi này có hai tác dụng chính là: ~ Bảo vệ kè mái phía đồng chống xói lở khi lũ bão vượt cao trình đỉnh đê thiết ~ Tăng độ đốc mái đê hạ lưu dé tiết kiệm đất trồng trọt được dé bảo vệ. Phía biển, kéo Mái dé hạ lưu cần được bảo vệ bằng lát những thảm cỏ hoặc đắp đất tránh ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp làm hạ vải dia kỹ thuật như hình.