Tổng quan nghiên cứu

Huyện đảo Phú Quốc giữ vị thế chiến lược khi được định hướng phát triển thành một trong ba đặc khu kinh tế trọng điểm của cả nước, đòi hỏi hạ tầng năng lượng phải đảm bảo tính liên tục và ổn định ở mức tuyệt đối. Công trình đường dây cáp ngầm xuyên biển 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc với chiều dài tuyến 55,813 km (tổng chiều dài cáp tính cả dự phòng đạt 58,7 km) đã chính thức đưa điện lưới quốc gia ra đảo. Tuy nhiên, tuyến cáp ngầm cao thế 3 lõi với tiết diện ruột đồng 630 mm² này lại đối mặt với thách thức kỹ thuật lớn do lượng công suất phản kháng dung tính sinh ra dọc tuyến là rất cao.

Trong các chế độ vận hành đặc thù như non tải, hòa điện hoặc khi hở mạch một đầu nhận tại trạm Phú Quốc, hiệu ứng Ferranti khiến điện áp trên đường dây gia tăng đột biến, vượt xa giới hạn an toàn cho phép là 1,1 pu. Vào năm 2014, khi nhu cầu phụ tải của huyện đảo mới ở mức khởi điểm khoảng 19,82 MW, khả năng tự tiêu thụ công suất phản kháng của lưới điện nội bộ hầu như không đáng kể. Tình trạng này đe dọa trực tiếp đến tuổi thọ lớp cách điện XLPE dày 15 mm của sợi cáp và sự ổn định của toàn bộ lưới điện khu vực Tây Nam Bộ.

Trước bài toán cấp bách đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật điện đã tập trung nghiên cứu ứng dụng thiết bị bù nối tiếp đồng bộ tĩnh SSSC công suất định mức 25 MVA thuộc hệ thống truyền tải điện xoay chiều linh hoạt FACTS. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xây dựng cấu trúc điều khiển nơ-ron mờ thích nghi ANFIS cho SSSC, từ đó kiểm soát linh hoạt trào lưu công suất, triệt tiêu dao động điện áp quá độ và nâng cao hệ số giảm chấn cho hệ thống truyền tải 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc trong giai đoạn vận hành từ năm 2014 định hướng đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên nguyên lý bù công suất phản kháng và công nghệ truyền tải điện xoay chiều linh hoạt FACTS, tiêu biểu là mô hình nguồn điện áp đồng bộ SVS do Gyugyi đề xuất từ năm 1989. Khác với thiết bị bù nối tiếp truyền thống điều khiển bằng thyristor như TCSC vốn có trở kháng phụ thuộc vào dòng tải, thiết bị SSSC sử dụng bộ biến đổi nguồn áp VSC để bơm trực tiếp một điện áp xoay chiều có góc pha vuông góc 90 độ so với dòng điện đường dây. Cơ chế này cho phép thiết bị mô phỏng linh hoạt tính chất bù dung hoặc bù cảm hoàn toàn độc lập với dòng tải, giúp thay đổi trở kháng tương đương và điều khiển công suất truyền tải một cách tức thời.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết điều khiển thông minh thông qua mô hình hệ suy diễn nơ-ron mờ thích nghi ANFIS. Cấu trúc ANFIS bao gồm 5 lớp chức năng liên kết chặt chẽ: lớp 1 tiếp nhận tín hiệu sai lệch góc tải và độ biến thiên tốc độ góc quay; lớp 2 thực hiện mờ hóa qua hệ hàm liên thuộc; lớp 3 tính toán trọng số kích hoạt của các luật suy diễn; lớp 4 chuẩn hóa ngõ ra; và lớp 5 tổng hợp tín hiệu giải mờ. Sự kết hợp giữa khả năng biểu diễn tri thức mờ và thuật toán học lan truyền ngược giúp ANFIS tự động tối ưu hóa các tham số mà không phụ thuộc vào mô hình toán học giải tích tuyến tính.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô phỏng số miền thời gian phi tuyến trên phần mềm chuyên dụng Matlab kết hợp bộ công cụ Simulink và SimPowerSystems. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác lập thông qua tập dữ liệu 40 điểm mốc định vị không gian WGS-84 dọc theo 55,813 km tuyến cáp, cùng chuỗi số liệu phụ tải thực tế tại thời điểm khởi điểm năm 2014 ở mức 19,82 MW và kịch bản phát triển năm 2020. Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo nguyên tắc mẫu có chủ đích tại các chế độ vận hành xung yếu nhất của hệ thống: chế độ đóng điện đường dây không tải, chế độ hở mạch một đầu nhận tại phía Phú Quốc, và tình huống sự cố ngắn mạch ba pha chạm đất kéo dài 0,1 giây tại thanh cái 110 kV.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích phi tuyến miền thời gian xuất phát từ đặc thù phi tuyến mạnh của hệ thống điện khi tích hợp các bộ biến đổi điện tử công suất lớn và máy phát đồng bộ. Các phương pháp tuyến tính hóa tín hiệu nhỏ truyền thống hoàn toàn không thể phản ánh chính xác các hiện tượng quá độ phức tạp, dao động cơ - điện cũng như tương tác động học giữa bộ điều khiển ANFIS và mạng lưới điện ngầm trong điều kiện sự cố khắc nghiệt.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích mô phỏng đem lại bốn phát hiện khoa học và kỹ thuật quan trọng đối với tuyến truyền tải 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc:

Thứ nhất, mô phỏng chế độ xác lập khẳng định nguy cơ quá điện áp nghiêm trọng do hiệu ứng Ferranti. Khi đường cáp ngầm vận hành ở chế độ cực tiểu năm 2014 và bị hở mạch phía Phú Quốc, điện áp tại cuối tuyến vọt lên mức 1,22 pu, vượt xa ngưỡng cho phép 1,1 pu. Việc lắp đặt kháng bù ngang với dung lượng 42 MVAr tại mỗi đầu đường dây (đạt mức bù 70%) đã khống chế điện áp dọc toàn tuyến ở mức an toàn dưới 1,03 pu. Đến năm 2020, khi phụ tải trên đảo tăng trưởng, mức bù cần thiết giảm xuống còn 55%, tương ứng dung lượng 33 MVAr mỗi đầu.

Thứ hai, thiết bị SSSC công suất 25 MVA thể hiện ưu thế vượt trội trong việc điều hòa trào lưu công suất. Trong dải góc tải từ 0 đến 90 độ, SSSC có khả năng nâng cao công suất truyền tải cực đại thêm khoảng 32% so với đường dây không bù, đồng thời giữ biên độ điện áp bơm vào ổn định mà không bị sụt giảm theo dòng điện.

Thứ ba, sự kết hợp giữa SSSC và bộ điều khiển ANFIS tạo ra khả năng giảm chấn dao động xuất sắc. Khi mô phỏng sự cố ngắn mạch ba pha xảy ra tại máy phát điện tương đương ở Phú Quốc, hệ thống không có bộ điều khiển mất tới 2,8 giây để dập tắt dao động góc công suất. Ngược lại, khi kích hoạt bộ điều khiển ANFIS, thời gian quá độ rút ngắn xuống chỉ còn 0,55 giây, tương đương mức cải thiện tốc độ ổn định hơn 80%.

Thứ tư, độ lệch tần số cực đại của máy phát trong giai đoạn quá độ giảm từ 0,45 Hz xuống dưới 0,12 Hz, giúp ngăn ngừa nguy cơ kích hoạt rơ-le sa thải phụ tải tự động.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu trên có thể được trực quan hóa rõ ràng qua biểu đồ miền thời gian và bảng thông số kỹ thuật. Trên biểu đồ phản ứng động học quá độ, đường đặc tính dao động khi không có bộ điều khiển ANFIS (thể hiện bằng đường màu xanh) xuất hiện các xung dao động biên độ lớn và tắt rất chậm. Trong khi đó, đường đặc tính khi tích hợp bộ điều khiển ANFIS (thể hiện bằng đường màu đỏ) có độ quá điều chỉnh giảm tới 65% và nhanh chóng xác lập lại trạng thái cân bằng. Đồng thời, bảng đối chiếu các mức bù kháng 55%, 60%, 65% và 70% phản ánh rõ nét quy luật kiểm soát điện áp dọc chiều dài 55,813 km của sợi cáp ngầm.

Sự vượt trội của ANFIS so với các bộ điều khiển kinh điển như PID nằm ở cơ chế tự thích nghi thông số hàm liên thuộc dựa trên dữ liệu học. Trong các tình huống sự cố nghiêm trọng của lưới điện, hệ số khuếch đại cố định của PID không thể bao quát hết các điểm làm việc bị trôi dạt. ANFIS khắc phục triệt để nhược điểm này bằng cách liên tục hiệu chỉnh bề rộng hàm liên thuộc hình chuông, cung cấp tín hiệu điều khiển điện áp tức thời đến mạch nghịch lưu của SSSC, từ đó bảo vệ hệ thống trước nguy cơ mất đồng bộ cục bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý vận hành có tính ứng dụng cao:

Thứ nhất, triển khai lắp đặt thiết bị SSSC công suất định mức 25 MVA tại trạm 110 kV, tích hợp thuật toán điều khiển nơ-ron mờ ANFIS nhằm kiểm soát trào lưu công suất chủ động. Mục tiêu kỹ thuật cụ thể là khống chế thời gian dập tắt dao động quá độ dưới 0,6 giây khi xảy ra sự cố lưới, với lộ trình thực hiện từ 18 đến 24 tháng dưới sự chủ trì của Tổng công ty Điện lực miền Nam.

Thứ hai, tối ưu hóa phân kỳ đầu tư hệ thống bù phản kháng theo Quyết định số 0223/QĐ-BCT ngày 14/01/2011 của Bộ Công Thương. Đề xuất sử dụng các bộ kháng bù ngang có nấc điều chỉnh linh hoạt gồm 42 MVAr, 36 MVAr và 30 MVAr đặt tại phía trạm Phú Quốc kèm máy cắt chuyên dụng. Giải pháp này giúp cắt giảm từ 60% đến 70% vốn đầu tư ban đầu so với phương án thi công ngay hai mạch cáp 110 kV hoặc phương án nâng cấp lên cấp điện áp 220 kV.

Thứ ba, thiết lập hệ thống quan trắc và giám sát tự động thông số vận hành của tuyến cáp ngầm 55,813 km qua giao thức SCADA hiện đại. Định kỳ 6 tháng một lần, đơn vị quản lý vận hành cần thu thập dữ liệu tổn hao và biến thiên điện áp để tái huấn luyện tập dữ liệu mẫu cho bộ điều khiển ANFIS, đảm bảo độ chính xác dự báo luôn đạt trên 98%.

Thứ tư, xây dựng quy chế phối hợp vận hành liên động giữa nguồn máy phát điện tại chỗ có tổng công suất dự kiến 200 MW trên đảo Phú Quốc với đường dây cáp ngầm. Trung tâm Điều độ Hệ thống điện miền Nam cần duy trì biên độ dao động điện áp thanh cái trong dải từ 0,95 pu đến 1,05 pu trong mọi khung giờ vận hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn phong phú cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Kỹ sư điều độ và kỹ thuật viên vận hành lưới điện: Luận văn cung cấp phương pháp luận chi tiết và các thông số cài đặt chỉnh định mức kháng bù 42 MVAr cho đường dây cáp ngầm cao thế 110 kV. Tài liệu giúp giải quyết trực tiếp bài toán xử lý hiện tượng tăng điện áp cuối nguồn khi hở mạch hoặc non tải, nâng cao độ an toàn cho hệ thống.

Chuyên gia tư vấn thiết kế và quản lý dự án công trình điện: Các kỹ sư kinh tế năng lượng có thể tham khảo phương pháp tính toán so sánh hiệu quả giữa phương án đầu tư 1 mạch cáp 110 kV tiết diện 630 mm² với phương án 2 mạch hoặc đường dây 220 kV, từ đó tối ưu hóa nguồn vốn xây dựng cơ bản trong các dự án cáp ngầm biển.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật điện: Đề tài là tài liệu tham khảo chuẩn mực về mô hình hóa thiết bị FACTS dạng SSSC và kỹ thuật ứng dụng trí tuệ nhân tạo ANFIS trên nền tảng mô phỏng phi tuyến. Nghiên cứu sinh có thể kế thừa thuật toán để phát triển cho các thiết bị điều phối dòng công suất hiện đại khác.

Giảng viên và các cơ sở đào tạo chuyên ngành năng lượng: Luận văn đóng vai trò như một nghiên cứu tình huống thực tế điển hình phục vụ giảng dạy các học phần môn học Hệ thống điện nâng cao, Ổn định hệ thống điện và Điều khiển thông minh tại các trường đại học kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Tuyến cáp ngầm 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc vì sao lại đối mặt với nguy cơ quá điện áp nghiêm trọng hơn đường dây trên không?
Đường dây cáp ngầm 110 kV dài 55,813 km có điện dung ký sinh lớn hơn đường dây trên không từ 15 đến 20 lần do cấu trúc 3 lõi cách điện XLPE đặt sát nhau. Khi đường dây non tải hoặc hở mạch đầu nhận, dòng dung lớn chạy qua cảm kháng sinh ra sụt áp ngược, đẩy điện áp tại trạm Phú Quốc vọt lên tới 1,22 pu nếu không có thiết bị bù ngang hỗ trợ.

Thiết bị bù nối tiếp đồng bộ tĩnh SSSC có ưu điểm gì vượt trội so với thiết bị TCSC?
Thiết bị SSSC ứng dụng bộ biến đổi nguồn áp VSC để bơm điện áp xoay chiều độc lập hoàn toàn với dòng điện truyền tải trên đường dây. Trong khi đó, điện áp bù của thiết bị TCSC tỷ lệ thuận với dòng đường dây. Do đó, khi dòng tải suy giảm, TCSC mất dần khả năng điều khiển, còn SSSC vẫn duy trì được 100% dung lượng bù mong muốn.

Vai trò quyết định của bộ điều khiển thông minh ANFIS đối với hệ thống SSSC trong nghiên cứu này là gì?
Bộ điều khiển ANFIS kết hợp ưu thế tự học của mạng nơ-ron và khả năng suy luận logic mờ, cho phép tự động điều chỉnh tham số hàm liên thuộc thích ứng theo từng trạng thái dao động phi tuyến. Trong sự cố ngắn mạch ba pha, ANFIS giúp giảm thời gian dập tắt dao động của máy phát từ 2,8 giây xuống 0,55 giây, vượt trội hoàn toàn so với bộ điều khiển PID kinh điển.

Căn cứ khoa học nào khẳng định việc lựa chọn công suất 25 MVA cho thiết bị SSSC là hợp lý?
Dung lượng 25 MVA được tính toán dựa trên mức độ thiếu hụt công suất truyền tải và biên độ dao động công suất tác dụng trong các kịch bản phụ tải cực đại giai đoạn 2014 - 2020. Mức dung lượng này đảm bảo khả năng bơm điện áp bù cần thiết để nâng công suất truyền dẫn thêm khoảng 32%, đồng thời tối ưu hóa chi phí đầu tư thiết bị.

Tại sao Bộ Công Thương điều chỉnh quy mô chỉ lắp đặt kháng bù tại Phú Quốc thay vì lắp ở cả hai đầu tuyến?
Theo Quyết định số 0223/QĐ-BCT ngày 14/01/2011, việc tập trung kháng bù tại phía trạm Phú Quốc giúp giải quyết trực tiếp điểm có điện áp tăng cao nhất khi hở mạch cuối tuyến, đồng thời tiết kiệm đáng kể chi phí xây dựng trạm Hà Tiên. Phương án này vẫn đảm bảo duy trì điện áp toàn tuyến dưới ngưỡng an toàn 1,1 pu.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã giải quyết trọn vẹn bài toán nâng cao tính ổn định cho tuyến truyền tải điện 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc với năm nội dung trọng tâm:

  • Làm rõ bản chất vật lý và định lượng nguy cơ quá điện áp trên tuyến cáp ngầm dài 55,813 km, đưa ra giải pháp kiểm soát điện áp dưới mức 1,1 pu.
  • Xây dựng thành công mô hình thiết bị bù nối tiếp đồng bộ tĩnh SSSC công suất 25 MVA kết nối vào hệ thống điện tương đương.
  • Thiết kế hoàn chỉnh cấu trúc bộ điều khiển nơ-ron mờ thích nghi ANFIS gồm 5 lớp chức năng vận hành tối ưu trong miền thời gian phi tuyến.
  • Rút ngắn thời gian dập tắt dao động quá độ khi ngắn mạch ba pha từ 2,8 giây xuống còn 0,55 giây, tương ứng mức cải thiện hệ số giảm chấn trên 80%.
  • Cung cấp luận cứ kỹ thuật phục vụ phân kỳ đầu tư hệ thống bù phản kháng linh hoạt cho các mốc phụ tải năm 2014 và năm 2020.

Về mặt đóng góp, luận văn đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa công nghệ thiết bị truyền tải linh hoạt FACTS và giải thuật trí tuệ nhân tạo, giải quyết thấu đáo bài toán ổn định điện áp cho công trình cáp ngầm xuyên biển dài nhất Đông Nam Á tại thời điểm xây dựng.

Trong lộ trình từ 12 đến 18 tháng tiếp theo, nghiên cứu cần được phát triển theo hướng thử nghiệm thực nghiệm trên hệ thống mô phỏng phần cứng trong vòng lặp HIL trước khi áp dụng vào thực tế vận hành. Các đơn vị quản lý, kỹ sư hệ thống điện và quý độc giả quan tâm có thể khai thác sâu hơn kết quả luận văn nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác quy hoạch, phát triển năng lượng biển đảo bền vững.