Đặt vấn đề Để hệ thống điện hoạt động linh hoạt ở mọi tình huống, kể cả tình huống sự cố nghiêm trọng nhất, thì phải có thiết bị để điều khiển các đại lượng trong hệ thống điện. Đại lượng được nghiên cứu trong luận văn này chính là nâng cao độ ổn định của điện áp và khả năng truyền tải công suất trong hệ thống điện 110kV Hà Tiên — Phú Quốc. Với sự phát triển mạnh và nhanh của các thiết bị điện tử công suất lớn, điện áp cao cho nên công nghệ FACTS ra đời nhằm giúp cho quá trình thực hiện điều khiên điện áp trên hệ thống điện, cụ thể là đường dây truyền tải được linh hoạt và nhanh chóng, một số nước tiên tiễn đã sử dụng thiết bị FACTS trong mạng truyền tải, cụ thể như Mỹ, Canada, Brazil. là những nước tiên phong sử dụng công nghệ FACTS.
Các thiết bị FACTS thường được sử dụng là: - SVC (Static Var Compensator): B6 bù công suất phản kháng tĩnh. - UPFC (Unified Power Flow Controller): B6 diéu khiển dòng công suất hợp nhất. - STATCOM (Static Synchronous Compensator): B6 bi déng bé tĩnh. - TCSC (Thyristor Controlled Series Compensator): B6 bu doc điều khiển thyristor.
- SSSC (Static Synchronous Series Compensator): Bộ bù nối tiếp đồng bộ tĩnh. - HVDC (Hight Voltage Direct Current): Dòng một chiều điện áp cao.3 Ứng dụng của thiết bị FACTS trong hệ thống điện Thay đổi trở kháng của một hay nhiều nhánh trong hệ thống điện, từ đó có thể phân bố lại luồng công suất trong mạng điện. Điều này giúp hạn chế luồng công suất truyền qua những nhánh có khả năng gây nghẽn mạch. Điều khiển dòng công suất trên đường dây trong lưới điện theo ý muốn, giúp sử dụng tốt hơn hệ thống truyền tải hiện có.
Ở một số nơi, việc tăng khả năng truyền tải công suất của các đường dây có tầm quan trọng thiết yếu, đặc biệt là những nơi có thị trường điện chưa được kiểm soát, hay những nơi mà các vị trí phát điện và tâm phụ tải có thê thay đổi. Điều này cần bổ sung các đường dây truyền tải mới để đáp ứng nhu cầu điện gia tăng, nhưng lại vướng phải các ràng buộc về kinh tế, môi trường. Trong trường hợp đó, các thiết bị FACTS đáp ứng được những yêu cầu cả về kinh tế và kỹ thuật. Tăng độ tin cậy và tính khả dụng của hệ thống truyền tải: Độ tin cậy và tính khả dụng của hệ thống truyền tải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Mặc dù các thiết bị FACTS không thể ngăn chặn sự cố, nhưng chúng có thể giảm thiểu những ảnh hưởng của sự cố và đảm bảo việc cấp điện an toàn hơn bằng cách giảm số lần đóng cắt đường dây. Ví dụ, cắt một phụ tải lớn gây ra một quá áp của đường dây và dẫn đến cắt đường dây. Tăng độ ôn định động và quá độ của lưới: Những đường dây dài liên kết các hệ thống, những tác động thay đổi phụ tải và các sự cố đường dây có thể tạo ra sự bat ổn định trong hệ thống truyền tải. Các vấn đề này cũng có thê dẫn tới giảm dòng công suất trên đường dây, dòng công suất vòng hoặc thậm chí dẫn đến cắt đường dây.
Các thiét bi FACTS lam ổn định các hệ thống truyền tải với việc tạo nâng cao công suất truyền tải và giảm nguy cơ sự cô đường dây. Tăng chất lượng cung cấp cho các ngành công nghiệp đòi hỏi chất lượng điện năng cao: Các ngảnh công nghiệp hiện đại phụ thuộc vào chất lượng điện cung cấp bao gồm các yêu cầu khắt khe về giao động của điện áp, tần số và không bị cắt điện. Những sự thay đổi về điện áp và tần số hay sự mất nguồn cấp có thể dẫn đến ngưng trệ trong quá trình sản xuất mà hệ quả là những tốn thất lớn về kinh tế. Các thiết bị FACTS có thể giúp cung cấp chất lượng điện năng theo yêu cầu.4 Mục tiêu đề tài Tìm hiểu về nguyên lý hoạt động, cấu tạo và các ứng dụng của SSSC trong điều khiển ổn định hệ thống điện.
Mô phỏng SSSC trong mạng điện để thấy được sự thay đổi dòng công suất thực tế trên đường dây, tiến tới xây dựng mô hình điều khiển cho thiết bị SSSC.5 Nhiệm vụ và giới hạn đề tài Sự thay đổi trào lưu công suất trên các đường dây theo các chế độ vận hành của hệ thống. Tìm hiểu thiết bị SSSC và thiết kế bộ điều khiển nơ-ron mờ thích nghi (ANFIS - Adaptive Neuro-Fuzzy Inference Systems) cho SSSC dé nang cao dé ổn định cho lưới điện 110kV Hà Tiên — Phi Quốc.6 Phương pháp nghiên cứu Dựa vào các nghiên cứu đã công bố trên tạp chí chuyên ngành uy tín sau đó tìm hiểu ứng dụng thiết bị SSSC trong hệ thống điện thực tế và tiến hành thiết kế bộ điều khiển cho SSSC để nâng cao ổn định cho lưới điện 110kV Hà Tiên —- Phú Quốc.7 Nội dung đề tài Chương 1: Tống quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Hệ thống cáp ngầm xuyên biển Hà Tiên - Phú Quốc Chương 4: Ứng dụng ANEIS điều khién SSSC trong hệ thống điện 110kV Hà Tiên — Phú Quốc Chương 5: Kết luận và Hướng phát triển CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYÉT 2.1 Bù nỗi tiếp đường dây truyền tái Mục đích của việc bù điện dung nối tiếp là giảm tổng trở kháng nối tiếp ảnh hưởng giữa hai đầu của đường dây truyền tải. Điện kháng của tụ bù nối tiếp triệt tiêu một phần của điện kháng cảm ứng đường dây thực tế, do đó, các điện kháng ảnh hướng thì giảm và ngược lại, điều này làm tăng sự truyền công suất của đường dây. Xem xét một mô hình hệ thống điện hai máy đơn giản khi không có và có một bù điện dung nối tiếp và sơ đồ pha tương ứng như trong Hình 2.
Trong mô hình này, giả định cho rằng trở kháng đường dây truyền tải là không đáng kế vì thé đường dây được đại diện bởi một điện kháng cảm ứng. Hơn nữa, nó được giả định rằng các máy ở cả hai đầu được biểu diễn bởi điện áp hinh sin biên độ không đổi ở tan số đồng bộ.1b cho thấy các tụ điện nối tiếp cung cấp một điện áp vuông góc và trễ đối với các dòng điện đường dây và điện áp dung này có phản kháng với điện áp. Có thể quan sát từ Hình 2.1b rằng dòng điện, và dòng công suất tăng trong hệ thống [1].O a I Wt 2 Vị =jLX, —.— Vs=Vs2ds Vn=Ứ xôn Es=Vs/ð& Vẹ=ỨaZÔx V a. Hé thong trước lúc bù nối tiếp | ee ie a ey Lị=jLX: 1Í “ðð6 ` i Xe X, Vs=V 5265 Vr=VrZdp b.
Hệ thống sau khi bù nối tiếp Hình 2. Sơ đồ đơn giản của một hệ thống điện hai máy và sơ đồ vector Các công suất tác dụng ở nút đầu cuối cho các hệ thống trước lúc bù trong Hình 2.1a được cho bởi VV, yr.1) xX, XxX, Với Vs và Vụ là độ lớn của điện áp đầu gửi và đầu nhận tương ứng, (giả định rằng V=Vs=Vnạ), ö (được gọi là các góc tải) là góc giữa điện áp đầu gửi và đầu nhận (5=Ss-5z) và Xu cảm kháng là đường dây truyền tải. Đối với hệ thống bù điện dung nối tiếp như trong Hình 2.1b thì 2 2 2 2 P= sins = — _ sing = —?>__ sins = ——— Siné Xy (x, -X.2) L Với Xe là điện kháng tụ điện, X,„= X¡.Xc là điện kháng ảnh hưởng, và k = X:/Xc là góc bù nối tiếp (0 < k<]).2 cho thấy công suất phản kháng đang hoạt động bình thường với các góc tải của hệ thống bù dung nối tiếp thể hiện trong Hình 2.1b như một hàm tham số của góc bù nối tiếp điện dung. Rõ ràng là bù nối tiếp làm tăng sức mạnh truyền bằng một tỷ lệ cố định cái mà truyền tải bởi đường dây không được bù ở ồ nhất định và truyền tải công suất cao hơn là đạt được bằng cách tăng góc bù.
15 k=1/3 keUs 1 Ce 054 // Ñ 0 /ˆ - \ ð[deg. Quan hệ giữa công suất được truyền tải so với các góc tai 2.2 Nguồn điện áp đồng bộ Một trong những cách để phân loại các bộ điều khiên FACTS là nhóm chúng kết hợp với sự sắp xếp mạch bên trong của chúng tức là loại được thyristor điều khiển (trở kháng thay đổi) và loại chuyên đổi. Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động của các thyristor điều khiển các thiết bị loại FACTS là cung cấp một trở kháng phản ứng biến đổi với hệ thống điện, do đó thường thay đổi tính chất của các trở kháng hệ thống. Điều này được thực hiện bởi các tụ điện và cuộn cảm truyền thống †ạo ra hoặc hấp thụ công suất phản kháng cần thiết cho việc bù và các thyristor chỉ được sử dụng để điều khiển đóng cắt mở và tắt các tụ điện và cuộn cảm.
Mặt khác, các loại công cụ chuyên đổi bộ điều khiển FACTS cung và hấp thụ công suất phản kháng bằng cách bơm một điện áp xoay chiều thu được từ một nguồn điện áp đồng bộ (SVS - Synchronous Voltage Source). Cách tiếp cận này, khi so sánh với các bộ điều khiển FACTS được điều khiển bằng thyristor, nói chung là cung cấp các hiệu năng cao cho điện áp truyền tải, điện kháng đường dây ảnh hưởng, và điều khiển góc. SVS có thể được coi tương tự như một mô hình lý tưởng, máy điện quay đồng bộ sản xuất một bộ được cân bằng điện áp hình sin ở tần số cơ bản, có thể điều khiển được biên độ và góc pha: tạo ra hoặc hấp thụ công suất phản kháng đề hoạt động như một tụ điện đồng bộ. Máy lý tưởng này không có quán tính, phản ứng của nó là thực tế tức thời, nó không làm thay đổi trở kháng hệ thống hiện hữu và nó có thể tạo ra công suất phản kháng bên trong (cả điện dung và cảm ứng).
Theo cách tương tự, SVS có thể hoạt động với một tụ điện lưu trữ DC tương đối nhỏ một cách tương đối đủ để trao đổi công suất phản kháng với hệ thống AC. Hơn nữa, nó có thé trao đổi công suất phản kháng với hệ thống AC nếu nó được nối với một nguồn năng lượng điên hoặc nguôồn lưu trữ DC thích hợp có thể cung cấp hoặc hấp thụ năng lượng nó cung cấp cho, hoặc hấp thụ từ hệ thống AC.3 cho thấy một đại diện chức năng của một SVS (loạt kết nói nối tiếp ở đây) trong đó bao gồm các bộ chuyền đổi điện áp nguồn (VSC), một biến thế ghép, một nguồn năng lượng tùy chọn và các thiết bị điều khiển. Các tài liệu tham khảo (các bù công suất phan khang Qyer và công suat tac dung P,.