Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng phát triển mạnh mẽ với hàng chục điểm mỏ, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời để lại hệ lụy môi trường nghiêm trọng. Quá trình khai thác, bốc xúc đất đá và đổ thải làm suy thoái tài nguyên đất, phá vỡ cấu trúc thổ nhưỡng, gây ô nhiễm kim loại nặng (KLN) và làm mất khả năng canh tác nông nghiệp tại các khu vực lân cận mỏ. Song song với đó, sự phát triển nông nghiệp cơ giới hóa tạo ra lượng phế phụ phẩm trồng trọt rất lớn (trên 84,5 triệu tấn năm 2012 theo Báo Nông nghiệp Việt Nam, riêng rơm rạ trên 40 triệu tấn và trấu trên 8 triệu tấn năm 2013). Thói quen đốt bỏ rơm rạ ngoài đồng ruộng gây lãng phí sinh khối, ô nhiễm không khí và gia tăng phát thải khí nhà kính.

Xuất phát từ thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường của tác giả Lê Huyền Trang (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2016) thực hiện đề tài nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm rơm rạ sản xuất than sinh học (biochar) ứng dụng vào việc xử lý, cố định kim loại nặng trong đất ô nhiễm sau khai thác khoáng sản.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu thành phần, tính chất của than sinh học sản xuất từ rơm rạ.
  2. Nghiên cứu ứng dụng than sinh học sản xuất từ rơm rạ để xử lý Chì (Pb) di động trong đất ô nhiễm do hoạt động khai thác khoáng sản.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  • Điều tra, đánh giá hiện trạng quản lý đất và chất lượng môi trường đất tại khu vực mỏ thiếc xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Xác định các chỉ tiêu hóa lý của than sinh học từ rơm rạ ở các dải nhiệt độ nhiệt phân khác nhau.
  • Bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu quả cố định Pb di động và biến thiên pH đất trong điều kiện phòng thí nghiệm theo các tỷ lệ phối trộn than sinh học và mốc thời gian xác định.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đất tại khu vực bãi thải mỏ thiếc (xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) và than sinh học sản xuất từ phế phụ phẩm rơm rạ.
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm thực hiện trong phạm vi Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện từ ngày 17/8/2015 đến ngày 30/12/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và văn bản pháp lý

Đề tài dựa trên các khái niệm chuẩn mực về môi trường, ô nhiễm đất, phân loại kim loại nặng (các nguyên tố có tỷ trọng $d > 4$ hoặc $5 \text{ g/cm}^3$ như $\text{Pb}$, $\text{Cd}$, $\text{Cu}$, $\text{Zn}$, $\text{As}$) và cơ chế cố định kim loại nặng của than sinh học (cấu trúc tơi xốp, diện tích bề mặt riêng lớn, dung tích trao đổi cation cao, tính kiềm giúp nâng pH đất làm kết tủa ion kim loại).

Hệ thống căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn áp dụng trong khóa luận gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (hiệu lực từ 01/01/2015).
  • Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 (hiệu lực từ 01/07/2010).
  • Nghị định số 15/2012/NĐ-CP và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
  • QCVN 03:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu địa bàn, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ UBND xã Hà Thượng; các số liệu quan trắc môi trường mỏ thiếc từ các công trình đã công bố.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design – CRD) gồm 3 công thức phối trộn, lặp lại 3 lần (tổng cộng 9 đơn vị thí nghiệm trong chai nhựa chứa 1 kg đất/chai):
    • Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): 0% than sinh học.
    • Công thức 2 (CT2): Phối trộn 5% than sinh học rơm rạ theo khối lượng.
    • Công thức 3 (CT3): Phối trộn 10% than sinh học rơm rạ theo khối lượng.
    • Chế độ chăm sóc: Tưới nước định kỳ 2 lần/tuần để duy trì độ ẩm; lấy mẫu phân tích tại 2 mốc thời gian: 4 tuần và 8 tuần.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
    • Chuẩn bị mẫu: Đất bãi thải được phơi khô trong phòng thí nghiệm, giã nhỏ và rây qua rây 1 mm.
    • Chỉ tiêu pH: Đo bằng máy đo pH meter tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường.
    • Chỉ tiêu Pb di động: Phân tích tại Viện Môi trường Nông nghiệp theo phương pháp tiêu chuẩn cơ sở TCCS 08:2012/TTPT.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính toán giá trị trung bình, hệ số biến động ($\text{CV}%$) và mức sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ($\text{LSD}_{0.05}$) thông qua phần mềm SAS và Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc tìm kiếm giải pháp xử lý ô nhiễm đất sau khai khoáng bằng vật liệu thân thiện môi trường; xác định rõ mục tiêu, yêu cầu kỹ thuật của thí nghiệm, cùng ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn trong việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính và tái tạo đất nông nghiệp thoái hóa.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện các nội dung:

  • Cơ sở lý luận về ô nhiễm môi trường đất và độc học của kim loại nặng đối với hệ sinh thái và con người qua chuỗi thức ăn.
  • Thực trạng khai thác khoáng sản tại Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên (toàn tỉnh có 66 đơn vị với 85 điểm mỏ được cấp phép, chiếm hơn 3.191 ha đất; các bãi thải lớn như mỏ sắt Trại Cau xả thải gần 2 triệu $\text{m}^3/\text{năm}$, mỏ than Khánh Hòa gần 3 triệu $\text{m}^3/\text{năm}$).
  • Hiện trạng phát sinh sinh khối phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam (tiềm năng ước tính khoảng 60 triệu tấn phế phụ phẩm/năm từ lúa, ngô, sắn, mía, cà phê...).
  • Các công nghệ xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng: thực vật khử ô nhiễm, xử lý nhiệt, tách chiết/rửa đất, xử lý điện động, kết tủa hóa học và phân hủy sinh học.
  • Khái niệm, tiềm năng và cơ chế hoạt động của than sinh học: bổ sung dinh dưỡng ($\text{N, P, K}$), tăng $\text{CEC}$, tăng khả năng giữ nước và cố định kim loại nặng cũng như chất hữu cơ độc hại ($\text{PAHs, PCP}$, thuốc bảo vệ thực vật).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thông tin đối tượng nghiên cứu (đất bãi thải mỏ thiếc Hà Thượng và than sinh học rơm rạ), thời gian, địa điểm, quy trình xử lý mẫu đất đầu vào, sơ đồ bố trí thí nghiệm chậu vại (CRD với 3 công thức, 3 lần nhắc lại), quy trình duy trì độ ẩm và phương pháp phân tích $\text{pH}$, $\text{Pb}$ di động theo quy chuẩn $\text{TCCS 08:2012/TTPT}$.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng môi trường đất mỏ thiếc Hà Thượng

  • Xã Hà Thượng có diện tích tự nhiên 1.534,35 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 72,03% (1.104,97 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 27,04% (414,88 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 0,93% (14,20 ha).
  • Khu vực mỏ thiếc do Xí nghiệp thiếc Đại Từ khai thác từ năm 1987 (hình thức lộ thiên, công suất thiết kế 20.000 tấn quặng/năm). Trong tổng số 21 ha đất đã khai thác, có 19 ha đã hoàn thổ và 2 ha chưa hoàn thổ. Khảo sát 30 hộ dân cho thấy chỉ có 4 hộ (2,49 ha, tương ứng 79,43% diện tích đất thu hồi) đưa vào trồng keo nhưng cây sinh trưởng kém, còn 26 hộ (0,6445 ha, tương ứng 20,57%) bỏ hoang do đất cằn cỗi và lo ngại ô nhiễm.
  • Kết quả phân tích chất lượng đất tại khu vực mỏ thiếc Hà Thượng cho thấy sự ô nhiễm kim loại nặng rõ rệt so với QCVN 03:2008/BTNMT:
Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Đất màu ven suối nhận nước thải (1) Đất bãi thải xí nghiệp (2) Đất màu giáp hồ chứa nước thải (3) QCVN 03:2008/BTNMT
$\text{pH}$ - 4,50 5,40 3,50 -
$\text{Fe}$ $\text{mg/kg}$ 4.059,00 6.496,00 23.144,50 -
$\text{Mn}$ $\text{mg/kg}$ 156,00 222,50 62,00 -
$\text{Zn}$ $\text{mg/kg}$ 87,50 < 9,00 46,50 300,00
$\text{Cd}$ $\text{mg/kg}$ 10,45 12,00 12,21 10,00
$\text{Pb}$ $\text{mg/kg}$ 285,75 310,00 308,25 300,00
$\text{As}$ $\text{mg/kg}$ 22,75 162,50 19,40 12,00
$\text{Cu}$ $\text{mg/kg}$ 39,25 82,50 94,15 100,00
$\text{Pb}$ di động $\text{mg/kg}$ - 0,185 - -

(Nguồn: Nguyễn Duy Hải, 2011 và kết quả phân tích mẫu năm 2015 của đề tài)

2. Thành phần và tính chất của than sinh học từ rơm rạ

Than sinh học rơm rạ biến đổi tính chất lý hóa phụ thuộc vào nhiệt độ nhiệt phân:

Ký hiệu mẫu Dải nhiệt độ nhiệt phân ($^\circ\text{C}$) $\text{pH}$ $\text{CEC}$ ($\text{mmol/kg}$) $\text{N}_{\text{ts}}$ ($\text{mg/g}$) $\text{K}_{\text{ts}}$ ($\text{mg/g}$) $\text{P}_{\text{ts}}$ ($\text{mg/g}$)
TD1 300 - 450 9,60 696,92 4,10 2,40 2,40
TD2 450 - 600 10,42 701,32 3,70 1,00 1,50
TD3 600 - 850 11,31 694,52 1,50 2,00 0,60

(Nguồn: Mai Thị Lan Anh và cộng sự, 2012)

Thành phần nguyên tố của than sinh học rơm rạ gồm: Cacbon tổng số 50,20%; Cacbon cố định 47,50%; Hợp chất hữu cơ bay hơi 10,50%; Oxy 5,89%; Hydro 0,92%; Nitơ 0,85%; Lưu huỳnh 0,14%.

3. Hiệu quả xử lý Pb di động trong đất thí nghiệm

Kết quả theo dõi sau 4 tuần và 8 tuần thí nghiệm cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về độ chua và hàm lượng chì di động trong đất:

Mốc thời gian Chỉ tiêu theo dõi Đất đầu vào CT1 (0% TSH) CT2 (5% TSH) CT3 (10% TSH) $\text{CV}%$ $\text{LSD}_{0.05}$
Sau 4 tuần $\text{pH}$ đất 5,40 5,41 5,56 5,70 0,9944 0,1104
$\text{Pb}$ di động ($\text{mg/kg}$) 0,185 0,159 0,080 0,050 5,0140 0,0096
Sau 8 tuần $\text{pH}$ đất 5,40 6,53 6,72 6,98 0,9183 0,1237
$\text{Pb}$ di động ($\text{mg/kg}$) 0,185 0,120 0,044 < 0,020 6,6630 0,0082

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định được thực trạng ô nhiễm kim loại nặng tại bãi thải mỏ thiếc Hà Thượng: đất có tính axit cao ($\text{pH} = 3,50 - 5,40$), hàm lượng $\text{As}$ vượt quy chuẩn từ 1,6 đến 13,5 lần (đạt mức 162,5 $\text{mg/kg}$ tại bãi thải), $\text{Cd}$ và $\text{Pb}$ tổng số đều chạm hoặc vượt ngưỡng QCVN 03:2008/BTNMT; hàm lượng $\text{Pb}$ di động ban đầu trong đất bãi thải là 0,185 $\text{mg/kg}$.
  • Chứng minh tính chất kiềm hóa mạnh của than sinh học từ rơm rạ ($\text{pH} = 9,60 - 11,31$), dung tích hấp phụ $\text{CEC}$ cao (xấp xỉ $700 \text{ mmol/kg}$) và chứa hàm lượng cacbon cố định lớn (47,50%).
  • Việc bổ sung than sinh học làm tăng $\text{pH}$ của đất và giảm mạnh nồng độ $\text{Pb}^{2+}$ di động theo cả tỷ lệ phối trộn và thời gian ủ ẩm:
    • Ở mốc 4 tuần: phối trộn 5% than sinh học làm giảm nồng độ $\text{Pb}$ di động từ 0,185 $\text{mg/kg}$ xuống 0,080 $\text{mg/kg}$ (giảm 56,7%); phối trộn 10% than sinh học giảm xuống 0,050 $\text{mg/kg}$ (giảm 73,0%).
    • Ở mốc 8 tuần: công thức 5% than sinh học giảm $\text{Pb}$ di động xuống 0,044 $\text{mg/kg}$; công thức 10% than sinh học đưa nồng độ $\text{Pb}$ di động về mức dưới ngưỡng phát hiện (< 0,020 $\text{mg/kg}$, giảm trên 89,2% so với ban đầu).

Giải pháp và kiến nghị

  • Sử dụng than sinh học từ rơm rạ như một giải pháp hoàn thổ và cải tạo đất nông nghiệp bị thoái hóa, chua hóa và nhiễm độc kim loại nặng quanh các khu vực khai khoáng.
  • Tận dụng triệt để nguồn phế phụ phẩm trồng trọt tại địa phương để sản xuất than sinh học, giảm thiểu tập quán đốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường không khí.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm cụ thể về khả năng cố định $\text{Pb}^{2+}$ trong đất bãi thải mỏ thiếc bằng than sinh học rơm rạ tại Thái Nguyên.
  • Làm rõ mối tương quan nghịch giữa sự gia tăng $\text{pH}$ do than sinh học và sự sụt giảm nồng độ kim loại nặng hòa tan trong dung dịch đất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (thí nghiệm chậu vại 1 kg đất), thời gian theo dõi giới hạn trong 8 tuần; chỉ tập trung đánh giá đơn chỉ tiêu kim loại nặng dạng linh động là Chì ($\text{Pb}^{2+}$), chưa đánh giá trên các kim loại nặng độc hại khác có hàm lượng cao tại mỏ thiếc như Asen ($\text{As}$) hay Cadimi ($\text{Cd}$).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Triển khai thử nghiệm ngoài đồng ruộng trên diện tích đất bãi thải đã hoàn thổ tại xã Hà Thượng.
    • Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và mức độ tích lũy kim loại nặng trong nông sản khi trồng cây trên đất phối trộn than sinh học.
    • Mở rộng nghiên cứu khả năng hấp phụ và cố định đồng thời nhiều kim loại nặng ($\text{As, Cd, Cu, Zn}$) của than sinh học trong các điều kiện canh tác khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đất đai, Nông học, Thổ nhưỡng học.
  • Cán bộ kỹ thuật và nhà quản lý môi trường tại các địa phương có hoạt động khai khoáng đang tìm kiếm giải pháp hoàn thổ, phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm: quy trình thiết kế thí nghiệm CRD đánh giá than sinh học, phương pháp phân tích $\text{pH}$ và $\text{Pb}$ di động, cùng bộ dữ liệu thực trạng ô nhiễm đất tại vùng mỏ thiếc Đại Từ (Thái Nguyên).

Câu hỏi thường gặp

1. Nhiệt độ nhiệt phân ảnh hưởng như thế nào đến tính chất của than sinh học rơm rạ?
Khi nhiệt độ nhiệt phân tăng từ $300 - 450^\circ\text{C}$ lên $600 - 850^\circ\text{C}$, $\text{pH}$ của than sinh học tăng từ 9,60 lên 11,31 (tính kiềm tăng). Tuy nhiên, hàm lượng Nitơ tổng số giảm mạnh từ 4,1 $\text{mg/g}$ xuống 1,5 $\text{mg/g}$ và Photpho tổng số giảm từ 2,4 $\text{mg/g}$ xuống 0,6 $\text{mg/g}$ do các nguyên tố này bị nhiệt phân hủy. Dung tích hấp thu cation ($\text{CEC}$) dao động không đáng kể, đạt giá trị cao nhất tại dải $450 - 600^\circ\text{C}$ ($701,32 \text{ mmol/kg}$).

2. Hàm lượng kim loại nặng tại bãi thải mỏ thiếc Hà Thượng trước khi xử lý ô nhiễm ra sao?
Đất bãi thải mỏ thiếc có tính axit mạnh ($\text{pH} = 5,40$ tại bãi thải và $\text{pH} = 3,50$ tại vùng đất giáp hồ lắng), hàm lượng Asen ($\text{As}$) lên tới 162,5 $\text{mg/kg}$ (vượt gần 13,5 lần so với giới hạn QCVN 03:2008/BTNMT là 12 $\text{mg/kg}$), Cadimi ($\text{Cd}$) đạt 12,0 $\text{mg/kg}$ (vượt chuẩn 10 $\text{mg/kg}$), Chì ($\text{Pb}$) đạt 310 $\text{mg/kg}$ (vượt chuẩn 300 $\text{mg/kg}$) và $\text{Pb}$ di động là 0,185 $\text{mg/kg}$.

3. Cơ chế nào giúp than sinh học làm giảm hàm lượng Pb di động trong đất?
Than sinh học làm tăng $\text{pH}$ đất (nhờ giải phóng các oxit, hydroxit, cacbonat của cation kiềm $\text{Ca, Mg, K}$ có trong tro than), tạo môi trường thuận lợi để ion $\text{Pb}^{2+}$ kết tủa dưới dạng hydroxit hoặc cacbonat khó tan. Đồng thời, diện tích bề mặt xốp lớn và dung tích trao đổi cation cao ($\text{CEC}$) của than sinh học giúp hấp phụ và giữ chặt các ion chì trên bề mặt, ngăn chặn sự hòa tan và di động của chúng.

4. Hiệu quả xử lý Pb di động sau 8 tuần ở công thức phối trộn 10% than sinh học đạt mức nào?
Sau 8 tuần, ở công thức phối trộn 10% than sinh học (CT3), $\text{pH}$ đất tăng từ 5,40 lên 6,98 và hàm lượng $\text{Pb}$ di động giảm từ 0,185 $\text{mg/kg}$ xuống dưới 0,020 $\text{mg/kg}$ (dưới ngưỡng phát hiện của phương pháp phân tích), giảm hơn 89,2% lượng chì di động so với đất ban đầu.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Huyền Trang đã làm rõ thực trạng suy thoái, ô nhiễm kim loại nặng nghiêm trọng tại khu vực bãi thải mỏ thiếc Hà Thượng (Đại Từ, Thái Nguyên) và tiềm năng to lớn của việc tận dụng phụ phẩm rơm rạ. Kết quả thực nghiệm khẳng định than sinh học rơm rạ có tính kiềm cao, giàu dung tích hấp phụ, giúp nâng $\text{pH}$ đất từ môi trường axit lên trung tính và cố định hiệu quả dạng Chì di động ($\text{Pb}^{2+}$ giảm xuống dưới 0,020 $\text{mg/kg}$ sau 8 tuần với tỷ lệ phối trộn 10%). Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm thực tiễn cho định hướng xử lý ô nhiễm đất sau khai thác mỏ gắn liền với nông nghiệp tuần hoàn.