CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN CỦA HUYỆN ĐỨC HÒA 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên của huyện Đức Hòa 1.1 Vị trí địa lý, địa hình [28] [29] Đức Hòa là một huyện của tỉnh Long An có vị trí địa lý thuận lợi nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh nên có mối quan hệ gắn bó khá đặc biệt với vùng đất Củ Chi, Hóc Môn, Bà Điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa. Huyện Đức Hòa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An, có tọa độ địa lý là 106016'11" - 106031'57" kinh độ Đông và 10044'30" - 11001'38" vĩ độ Bắc. Tổng diện tích tự nhiên là 427,75 km2 (chiếm 9,5% diện tích toàn tỉnh, đứng hàng thứ 6/14), có 20 đơn vị trực thuộc: gồm 3 thị trấn và 17 xã, trung tâm hành chính của huyện là thị trấn Hậu Nghĩa.1: Bản đồ hành chính tỉnh Long An - Phía Bắc giáp huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh và huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh 4 - Phía Nam giáp huyện Bến Lức tỉnh Long An - Phía Đông giáp huyện Hóc Môn, Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh - Phía Tây giáp huyện Đức Huệ tỉnh Long An. Vị trí địa lý huyện Đức Hòa nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phí Nam, giáp ranh với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước là TP.
Hồ Chí Minh, nằm gần các khu công nghiệp, gần đường Xuyên Á. Vì vậy rất thuận lợi để phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội.2: Bản đồ hành chính huyện Đức Hòa 5 1.2 Địa hình, địa mạo [27] [28] - Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ giữa huyện sang hai hướng Đông Tây và chia làm 4 vùng như sau: + Vùng có địa hình cao từ 4 - 6 m bao gồm xã Lộc Giang, An Ninh Đông, An Ninh Tây, Tân Mỹ và một phần Hiệp Hòa. + Vùng có địa hình khá cao từ 3 - 4 m bao gồm xã Mỹ Hạnh Nam, Mỹ Hạnh Bắc, Đức Lập Hạ, Đức Lập Thượng, Tân Phú và một phần Hiệp Hòa. + Vùng có địa hình trung bình từ 1,5 - 3 m bao gồm thị trấn Hậu Nghĩa, Đức Hòa, các xã như Hòa Khánh Đông, Hựu Thạnh, Đức Hòa Hạ, Hòa Khánh Nam và một phần Hòa Khánh Tây.
+ Vùng có địa hình thấp dưới 1,5 m bao gồm khu vực ven sông Vàm Cỏ Đông, kênh Thầy Cai - An Hạ thuộc các xã như Tân Phú, Hòa Khánh Tây, Hòa Khánh Nam, Hựu Thạnh, Đức Hòa Hạ, Tân Mỹ, Đức Lập Thượng, Đức Lập Hạ, Mỹ Hạnh Bắc, Hòa Khánh Đông… - Về địa mạo, huyện Đức Hòa có hai dạng chính: + Thềm phù sa cổ: khu vực địa hình cao không ngập, chiếm phần lớn địa bàn huyện, chỉ có lớp trầm tích phù sa cổ, vật liệu chủ yếu là cát pha thịt. + Đồng lũ: nằm tại khu vực trũng ven sông Vàm Cỏ Đông và kênh Thầy Cai, An Hạ, địa hình từ bằng phẵng đến trũng thấp và ngập lụt hành năm, lớp mặt đến độ sâu 5 - 50 m là phù sa mới với vật liệu đất chủ yếu là sét có vật liệu sinh phèn, lớp dưới phù sa cổ. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 42.169 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 80,42%, đất lâm nghiệp chiếm 2,68%, đất ở 3.03%, đất chuyên dùng 7,88%, đất chưa sử dụng 10,59%. Nhìn chung, tài nguyên đất của huyện Đức Hoà có nhiều điều kiện cho phát triển công nghiệp, nguồn đất chưa sử dụng còn nhiều, địa hình tương đối bằng phẳng, thuận tiện cho việc san lấp mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng.
Là địa bàn tiếp giáp với TP. HCM, điều kiện đất đai rất thuận lợi cho phát triển trang trại.3 Thời tiết, khí hậu [28] Điều kiện khí hậu, thời tiết của huyện Đức Hòa mang các đặc điểm của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa là nền nhiệt độ cao với biên độ nhiệt ngày và đêm nhỏ. Khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10 trùng với gió mùa Tây Nam) và mùa khô (từ tháng 11 năm nay đến tháng 4 năm sau trùng với gió mùa Đông Bắc). Các chỉ số chung như sau: - Nhiệt độ trung bình 27,70 C - Tổng tích ôn cao (khoảng 9.0000 C/năm) - Lượng mưa trung bình thuộc vào loại khá cao (khoảng 1.886 mm/năm), số ngày mưa bình quân lá 121 ngày, trong đó 2 tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 (306 mm) và tháng 10 (328 mm) - Độ ẩm không khí trung bình 82 - 83% và thay đổi theo mùa - Lượng bốc hơi trung bình 2,9 mm/ngày - Số giờ nắng cao (2.664 giờ/năm) và phân hóa theo mùa - Vào mùa mưa, gió mùa Tây Nam mang theo nhiều hơi nước với hướng gió thịnh hành là Tây Nam, vào mùa khô, gió mùa Đông Bắc mang không khí khô có hướng gió thịnh hành là Đông Bắc và Đông, chuyển tiếp giữa hai mùa là gió Đông, gió Tây Nam.
Tốc độ trung bình 2 m/s. Mỗi năm có khoảng 110 - 140 ngày có dông với tốc độ có thể lên tới 30 - 40 m/s trong cơn dông.4 Thủy văn [27] [28] Nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sông Vàm Cỏ Đông và nhờ vào nguồn nước xả của hồ Dầu Tiếng. Do một phần quan trọng của địa bàn nằm trên vùng triến phù sa cổ, huyện Đức Hòa có mật độ dòng chảy không cao với tổng diện tích 505 km2, mật độ 1,18km/km2 và phân bố chủ yếu tại vùng trũng phèn và vùng ven sông Vàm Cỏ Đông. 7 Các kênh chi lưu quan trọng của hệ thống sông Vàm Cỏ Đông là kênh Nhà Thờ, kênh rạch Nhum, kênh Cầu Duyên - Hốc Thơm, kênh số 2, kênh sông Tra, kênh chợ Đức Hòa, kênh Láng Pha, kênh Láng Ven, Bảy Quang.
Mùa lũ trên vùng trũng của địa bàn (khoảng 19000 ha) kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 với 3 cấp độ như sau: - Ngập nông < 60 cm: 37% diện tích bị ngập - Ngập trung bình 60 – 100 cm: 38% diện tích bị ngập - Ngập sâu > 100 cm: 25% diện tích bị ngập Hệ thống sông, kênh, rạch tự nhiên trên địa bàn huyện có tổng chiều dài là 518,7 km, trong đó sông, kênh vận tải có tổng chiều dài 91,1 km chiếm 17,6%, còn lại kênh, rạch phục vụ thủy lợi có tổng chiều dài là 427,5 km chiếm 82,4%. Mật độ sông, kênh, rạch tự nhiên so với diện tích tự nhiên là 1,2 km/km2, so với 1000 dân là 2,5 km/1000 dân. Tuy nhiên các sông, kênh vận tải có mật độ khá cao khoảng 0,2 km/km2 so với diện tích tự nhiên 0,44 km trên 1000 dân. Hầu hết được phân bố chủ yếu dọc phía Tây - Nam của huyện như xã Lộc Giang, An Ninh Đông, Tân Phú, Hòa Khánh Tây, Hòa Khánh Nam, Hựu Thạnh và thị trấn Hiệp Hòa.
Về cấu trúc mạng lưới giao thông thủy bao gồm 8 tuyến trong đó tuyến trục là sông Vàm Cỏ Đông, còn lại là các tuyến nhánh. Sông Vàm Cỏ Đông là tuyến vận tải thủy chính, chạy song hành với đường bộ kết nối tỉnh Long An với các tỉnh miền Tây và Tây Ninh. Cụ thể như sau: - Sông Vàm Cỏ Đông: được coi là tuyến vận tải quan trọng trên địa bàn huyện Đức Hòa nói riêng và cả vùng kinh tế phía nam. Về vận tải hành khách, chủ yếu là các bến đò ngang sông dọc sông Vàm Cỏ Đông, phục vụ nhu cầu đi lại hàng ngày của người dân với nhiều mục đích khác nhau như đi chợ, đi làm, đi sang các huyện khác.
Về vận tải hàng hóa chủ yếu vận chuyển thóc, mía và các loại hàng hóa khác, vật liệu xây dựng từ các tỉnh miền Tây về huyện thông qua các bến đò vật liệu, từ đó được vận chuyển tới nơi chế biến và sản phẩm được vận chuyển bằng đường bộ đi các tỉnh khác như Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước và thành phố Hồ Chí Minh. Đoạn tuyến trên địa bàn huyện có chiều dài 69 km, điểm đầu tại 8 ranh tỉnh Tây Ninh chạy dọc theo ranh các huyện Đức Huệ, Bến Lức qua các xã Lộc Giang, An Ninh Đông, Tân Phú, Hòa Khánh Tây, Hòa Khánh Nam, Hựu Thạnh, thị trấn Hiệp Hòa, kết thúc tại ranh Bến Lức, hiện trạng mặt sông rộng từ 110 - 160 m, sâu từ 6,5 - 10,5 m. Sông Vàm Cỏ Đông là tuyến vận tải thủy liên tỉnh, có vai trò kết nối huyện với các tỉnh miền Tây và Tây Ninh. - Kênh Xáng Nhà Thờ: tuyến kênh nằm trên địa bàn thị trấn Hiệp Hòa chạy song song với ĐT 822 dài 3,5 km có điểm đầu sông Vàm Cỏ Đông, điểm cuối tại xã Hiệp Hòa.
Hiện trạng mặt kênh rộng 12 m, chiều sâu đáy bình quân 2 m. - Kênh rạch Nhum: kênh phục vụ chủ yếu nhu cầu đi lại giữa các ấp và vận chuyển các sản phẩm từ nông nghiệp của người dân trên địa bàn xã Tân Phú ra sông Vàm Cỏ Đông. Tuyến dài 3 km, điểm đầu tại sông Vàm Cỏ Đông, điểm cuối tại giao với đường Tân Phú - Hốc Thơm. Hiện trạng mặt kênh rộng 14 m, độ sâu bình quân 3,5m.
- Kênh Cầu Duyên - Hốc Thơm: dài 5,8 km, điểm đầu tại Sông Vàm Cỏ Đông, điểm cuối tại kênh Cầu Duyên. Hiện trạng mặt kênh rộng 12 m, độ sâu 3 m. - Kênh sông Tra: dài 2 km, điểm đầu tại Sông Vàm Cỏ Đông, điểm cuối tại ngã ba Láng Pha. Hiện trạng mặt kênh rộng 12 m, độ sâu bình quân 4 m.
- Kênh Ba Sa - Gò Mối: dài 4,8 km, điểm đầu giao với sông Vàm Cỏ Đông, điểm cuối tại ĐT 825. Hiện trạng mặt kênh rộng 20 m, độ sâu bình quân 3,5 m. - Kênh Láng Ven - Bảy Quang: dài 3 km, điểm đầu tại cầu Láng Pha, điểm cuối tại đường Đức Lập - Tua 1. Hiện trạng mặt kênh rộng 12 m, độ sâu bình quân 2 m.2 Đặc điểm địa chất tại Đức Hòa 1.1 Các nhóm đất chính [28] Trên địa bàn huyện Đức Hòa có 2 nhóm đất chính: - Nhóm đất xám chiếm 59% diện tích tự nhiên, phân bố trên khu vực thềm phù sa cổ với 2 loại: đất xám trên phù sa cổ có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám trên phù sa cổ bạc màu nhẹ.
Đây là nhóm đất có độ phì thấp, thành phần cơ giới 9 nhẹ, kết cấu rời rạc, phản ứng chua, khả năng giữ nước và hấp thu cation kém, thích nghi với cây trồng cạn như đậu phộng, thuốc lá. - Nhóm đất phèn chiếm 35% diện tích tự nhiên, phân bố trên khu vực phù sa mới ven sông và vùng trũng ven hệ thống kênh Thầy Cai - An Hạ.