Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu về công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 1.1 Giới thiệu chung về công nghệ chỉnh sửa gen Chỉnh sửa gen (hay còn được gọi là chỉnh sửa hệ gen) là một tập hợp các công cụ giúp các nhà khoa học thay đổi DNA của sinh vật. Phương pháp này lợi dụng hệ thống sửa chữa DNA của tế bào để tạo ra những thay đổi nhỏ trong trình tự DNA đích, thông qua việc sử dụng các nuclease tổng hợp để tạo ra đột biến đứt gãy sợi đôi (double-stranded breaks - DSB) tại vị trí xác định trong hệ gen. Đột biến xảy ra trên phân tử DNA thường là: (1) ghép nối trực tiếp và (2) mất/chèn đoạn hoặc trao đổi chéo hoặc chuyển đoạn (Hình 1.1: Cơ chế chỉnh sửa gen Ghi chú: Các mức độ khác nhau của tái tổ hợp, có sự tương đồng và không tương đồng.
Tái tổ hợp không tương đồng: Con đường tạo ra cNHEJ sửa chữa bảo Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 6 tồn theo nguyên tắc bổ sung; con đường cắt bỏ sai hỏng tạo ra đột biến mới altNHEJ/MMEJ (mất hoặc chèn dưới 3 nucleotide) và ghép sợi đơn (SSA) xảy ra khi có đoạn trình tự tương đồng tồn tại ở đâu đó trong hệ gen. Cả 3 loại sửa chữa này đều khác với tái tổ hợp tương đồng (HDR), ở đó, sau khi cắt bỏ đoạn sai hỏng, phần nhô ra của sợi đơn này sẽ trao đổi chéo với phần tương đồng không bị hư hại (một phần) của sợi đơn phân tử khác và ghép sợi đôi (liên kết bổ sung - SDSA), gây ra sự đảo ngược hoặc hoán vị gen alen. Ngoài ra, các cấu trúc tái tổ hợp (đường nối Holiday) trung gian có thể được hình thành bởi sự trao đổi đoạn sợi đôi giữa phân tử khuôn và phân tử lỗi hỏng. Dựa vào phân tử khuôn, sự trao đổi đoạn sợi đôi tạo ra nhiễm sắc tử chị em (SCE), trao đổi chéo trong giảm phân hoặc các dạng sắp xếp lại khác [118].
Đặc điểm chính của các công nghệ chỉnh sửa gen Đặc điểm Meganuclease ZFN TALEN CRISPR/Cas9 SV nhân sơ SV nhân sơ và SV Sinh vật nhân Vi khuẩn Nguồn gốc (Streptococus nhân thực thực Xanthomonas pyogenes) Mô-đun liên kết DNA – Protein DNA - Protein DNA - Protein DNA – RNA Cặp Protein Cặp Protein Mô-đun cắt Protein đơn Cas9 + gRNA (FokI) (FokI) Chiều dài trình tự 12 – 40 bp 18 – 24 bp 24 – 59 bp 20 bp đích Tần suất điểm cắt 1/1.000 bp 1/140 bp 1 tiểu đơn vị/1 bp 1/13 bp (PAM) Độ đặc hiệu Trung bình Trung bình Trung bình Cao Phức tạp, đắt đỏ Khả năng thí Đắt đỏ, cần thời Nhanh, đơn giản, Nhanh, đơn giản, cần chuyên môn nghiệm gian dài chi phí thấp giá rẻ cao và kinh nghiệm Nghiên cứu chỉnh sửa gen với sự phát triển của bốn công cụ dựa trên bốn loại nuclease khác nhau, bao gồm Meganuclease, ZFN (Zinc-Finger Nuclease), TALEN (Transcription Activator-Like Effector nuclease) và CRISPR/Cas (Clustered Regularly Interspaced Short Palindromic Repeats/CRISPR-associated protein) đã gặt hái nhiều thành công trong gần ba thập kỉ qua. Công nghệ Meganuclease và ZFN là hai công nghệ thế hệ thứ nhất, có nhược điểm là khá đắt đỏ và khó thiết kế nên khó có thể áp dụng để nghiên cứu chỉnh sửa gen. TALEN và CRISPR/Cas là hai công Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 7 nghệ chỉnh sửa gen thế hệ thứ hai; đã được cải tiến và hoàn thiện hơn, vì vậy, dễ sử dụng và linh hoạt hơn nhiều. Tất cả các hệ thống chỉnh sửa gen đều có có đặc điểm chung là được cấu tạo bởi 2 thành phần chính: (1) thành phần nhận biết và liên kết với DNA đích (yếu tố gắn DNA) và (2) thành phần cắt DNA đích (yếu tố cắt DNA).
Tuy nhiên, mỗi hệ thống có những đặc điểm đặc trưng riêng khiến cho chúng được sử dụng với các mục đích khác nhau (Bảng 1. Do có kích thước hệ gen tương đối nhỏ, nguồn đa dạng gen di truyền sẵn có, hiệu quả chuyển gen cao, dữ liệu đã công bố về hệ gen nhiều hơn so với các loại ngũ cốc khác, vì vậy, cây lúa được xem như một trong các hệ thống mô hình tuyệt vời nhất để nghiên cứu chức năng hệ gen, đặc biệt là các nghiên cứu ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen. Ngày càng có nhiều các công bố khoa học (Phụ lục 1) đã chứng minh cho thấy thành công của việc ứng dụng các công nghệ chỉnh sửa gen khác nhau vào cây lúa nhằm phát hiện vai trò của các gen chức năng và khả năng cải tiến các tính trạng quý như cải thiện chất lượng và năng suất hạt, nâng cao sức sống của cây, nâng cao hàm lượng các chất dinh dưỡng, cải thiện stress phi sinh học và stress sinh học…[103].2 Cấu trúc và cơ chế chỉnh sửa của công nghệ CRISPR/Cas9 1. Cấu trúc và chức năng sinh học của công nghệ CRISPR/Cas9 Các nhà khoa học đã chứng minh CRISPR cùng với các gen Cas tạo nên đáp ứng miễn dịch thích ứng ở vi khuẩn và vi khuẩn cổ đại để chống lại virus và phage [73, 112].
Các locus CRISPR này đã được phát hiện trong hệ gen của vi khuẩn và tảo từ lâu; tuy nhiên, các nhà khoa học phải mất hơn 20 năm nghiên cứu mới tìm ra chức năng sinh học của hệ thống CRISPR trong vi khuẩn, vi khuẩn cổ đại và tảo [73, 112]. Một hệ thống CRISPR/Cas tự nhiên bao gồm: các gen Cas mã hóa bởi các đơn vị lặp đối xứng nghịch đảo tương đồng, các endonuclease hoạt động qua trung gian RNA, các RNA ngắn (được gọi là “spacer”) sinh ra bởi sự xuất hiện của các trình tự DNA ngắn di động (được gọi là “protospacer”). Protospacer có trình tự bổ sung với các spacer di chuyển xung quanh vị trí trình tự lặp đối xứng nghịch đảo tương đồng khi tế bào vi khuẩn bị tấn công. Các spacer này có vai trò phát hiện sự xuất hiện của DNA ngoại lai khi tế bào bị xâm nhiễm và cho phép hệ thống CRISPR/Cas cắt DNA ngoại lai.
Cơ chế hoạt động của hệ thống miễn dịch qua trung gian CRISPR/Cas bao Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 8 gồm ba bước: thu nhận, biểu hiện và can thiệp. Ở bước thu nhận, một spacer mới (trình tự của DNA ngoại lai) được thu nhận và chèn vào cấu trúc tuần tự trên locus CRISPR. Tiền chất CRISPR-RNA (pre-crRNA) và protein Cas được sinh tổng hợp ở bước biểu hiện. Nhờ RNase III, pre-crRNA bị cắt ra thành các phân tử crRNA trưởng thành; crRNA sẽ kết hợp với protein Cas ở bước can thiệp để cắt các DNA ngoại lai.
Motif CRISPR gắn liền với mỗi protospacer và nằm sát với trình tự DNA đích được đặt tên là trình tự liền kề protospacer (protospacer adjacent motif – PAM). Trình tự PAM nằm trên hệ gen của virus và phage nhưng không xuất hiện trên locus CRISPR trong hệ gen vi khuẩn [112]. Các phân tích tin sinh học đã chỉ ra rằng Cas9 là một protein kích thước lớn đa chức năng, gồm hai phần: (i) thành phần nhận biết có vai trò phát hiện DNA đích và tương tác với sgRNA; (ii) thành phần nuclease chứa 2 domain RuvC-like và HNH, trong đó RuvC cắt sợi DNA đích không bổ sung với gRNA và HNH cắt sợi DNA bổ sung với gRNA. Nuclease Cas9 phát hiện DNA đích trong hệ gen có chứa trình tự dài 20 bp tương đồng với trình tự lõi hay trình tự dẫn đường trên phân tử sgRNA.
Cơ chế hoạt động này tạo nên tính đặc hiệu của Cas9 [112]. Trình tự PAM chứa 2 nucleotide bảo thủ nằm phía trước vị trí liên kết với crRNA để protein Cas nhận biết trình tự đích. Protein Cas không thể phát hiện và cắt hiệu quả DNA nếu thiếu bước nhận biết trình tự PAM. Trong hệ thống miễn dịch tự nhiên của vi khuẩn, trình tự PAM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp phân biệt DNA vi khuẩn và DNA ngoại lai xâm nhiễm.
Đặc điểm này giúp vi khuẩn bảo vệ DNA của mình khỏi sự tác động của nuclease. Trình tự PAM được phức hệ Cas9:sgRNA phát hiện và Cas9 endonuclease sẽ cắt tạo đứt gãy DNA tại vị trí cách trình tự PAM 3 bp. Ở một vài hệ thống CRISPR, trình tự PAM đặc biệt quan trọng đối với hoạt động chức năng của protein Cas, ví dụ như trình tự PAM 5’-NNNNGATT được nhận biết bởi protein Cas của Neissseria meningiditis. Tương tự, protein Cas của S.
thermophiles phát hiện trình tự PAM 5’-NGGNG hay 5’-NNAGAA, protein Cas của S. pyogenes phát hiện trình tự PAM 5’-NGG [73, 112]. Có thể thấy, phức hợp CRISPR/Cas9 có cấu trúc không phức tạp, dễ tùy biến để bám đặc hiệu DNA và đặc biệt là có thể thiết kế và thao tác không cần sử dụng DNA hay plasmid. Điều đó giúp giảm thiểu lo ngại tương tự trong trường hợp của Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 9 sinh vật biến đổi gen [69, 75].
Do lợi thế về kĩ thuật không quá phức tạp trong thiết kế cấu trúc, tính hiệu quả cao, chi phí vừa phải… nên công nghệ chỉnh sửa hệ gen sử dụng CRISPR/CAS9 được ứng dụng phổ biến không chỉ trong lĩnh vực y tế mà còn cả trong lĩnh vực sinh học nông nghiệp để phục vụ nhiều mục đích nghiên cứu khác nhau như nghiên cứu chức năng gen, cải tạo giống cây trồng…. Cơ chế chỉnh sửa gen đích của hệ thống CRISPR/Cas9 Năm 2012, lần đầu tiên công nghệ CRISPR/Cas9 được áp dụng để chỉnh sửa gen sinh vật trong công trình nghiên cứu của Jinek et al. tại trường đại học California. Các tác giả này đã đưa vào tế bào một phức hệ bao gồm nuclease Cas9 và RNA dẫn đường (guide RNA - gRNA) tự thiết kế để cắt đoạn DNA tại những vị trí mong muốn [68].2: Hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 Ghi chú: Hệ thống CRISPR/Cas9 bao gồm gRNA (A) và Cas9: sgRNA (B).
(C) Nuclease Cas9 phát hiện vị trí đích trong hệ gen (màu xanh) Trình tự PAM đặc hiệu (màu đỏ) được phức hệ Cas9:sgRNA phát hiện. [73, 112] Hiện nay, hệ thống miễn dịch của S. pyogenes (CRISPR/Cas9) được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu chỉnh sửa gen bằng công cụ CRISPR/Cas. Hệ thống CRISPR/Cas9 này đã được cải biến chỉ chứa hai thành phần: (i) phân tử sgRNA Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 10 (single-guide RNA) không mã hóa protein chứa trình tự dẫn đường được tạo ra bằng cách kết hợp protospacer với crRNA và tracrRNA; và (ii) enonuclease Cas9 kết hợp với sgRNA để tạo thành phức hệ CRISPR/Cas9 để cắt DNA sợi đôi (dsDNA).
Protein Cas9 được dẫn đường bởi sgRNA và nhận biết DNA đích nhờ sự có mặt của trình tự “lõi” trong sgRNA và trình tự PAM 5’-NGG’-3’ nằm gần trình tự đích (Hình 1.