MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, các ngành nghề sản xuất nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm ổn định lâu dài cho đời sống của nhân dân cả nước, nghề nông lâm nghiệp đang chiếm phần lớn trong tỷ lệ lao động thị trấn hội so với các ngành nghề dịch vụ khác. Nông nghiệp nông thôn có đóng góp cho nền kinh tế quốc dân với 20% GDP, trên 25% giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước. [11] Trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi được coi là một trong những nghề chính, chủ yếu là hình thức chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình riêng lẻ.
Theo các nhà môi trường thì các khí ô nhiễm sinh ra trong quá trình chăn nuôi gia cầm đều xả thải tự do. Theo đánh giá của người dân, từ thời điểm đàn gia cầm từ 30 ngày tuổi trở lên, mùi và bụi từ các khu chăn nuôi , đặc biệt là các trang trại sinh ra là rất lớn, mùi hôi thối có thể cảm nhận ở các vị trí xa trang trại 200m – 300m. Nồng độ các khí độc như NH3, H2S và bụi tăng dần theo thời gian sinh trưởng của đàn gia cầm và cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn không khí cho môi trường xung quanh, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người , làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, tăng tỉ lệ mắc bệnh, năng suất giảm sút, tăng các loại chi phí phòng bệnh do đó hiệu quả kinh tế của chăn nuôi không cao. Tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn thì nền kinh tế chủ yếu là phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ buôn bán, cùng với sự gia tăng đàn vật nuôi.
Cụ thể là đàn gia cầm và số lượng rác thải ngày một gia tăng thì tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi, rác thải cũng đang ở chiều hướng báo động, do vậy lượng chất n 2 thải phát sinh ra môi trường là rất lớn, đó là vấn đề thực sự cấp bách cần được mọi người quan tâm và chú trọng giải quyết. Để khắc phục được tình trạng trên phải đề ra các biện pháp quy hoạch cải tạo, xử lý chất thải đối với từng hộ gia đình để đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo cân bằng sinh thái môi trường và tiết kiệm cho người nông dân. Từ thực tiễn trên, cũng như thông qua việc nghiên cứu thực trạng môi trường chăn nuôi gia cầm và rác thải tại thị trấn Lộc Bình. Bằng những kiến thức đã học trên giảng đường và trải nghiệm thực tế, em muốn góp phần giải quyết được các vấn đề nan giải về môi trường trên mà còn đóng góp cho nền kinh tế địa phương cũng như đề ra các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả, em nhận thấy mô hình sử dụng chế phẩm BIO-TMT cần được nhân rộng ra nhiều địa phương, góp phần thúc đẩy việc chăn nuôi phát triển theo chiều hướng có lợi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nông thôn.
Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Môi Trường và dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Hà Đình Nghiêm, em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm BIO - TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi gà quy mô hộ gia đình tại thị trấn Lộc Bình - huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung: - Đưa ra những nhận xét chi tiết về hiệu quả của chế phẩm BIO - TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi khi áp dụng tại địa phương. - Ứng dụng các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi, đặc biệt là chế phẩm sinh học BIO –TMT trong xử lý môi trường.
Mục tiêu cụ thể: - Tư vấn chi tiết các nội dung liên quan đến chế phẩm đang được áp dụng và cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng chế phẩm làm đệm lót cho các hộ gia đình tại địa phương. - Đánh giá tính hiệu quả của chế phẩm thông qua việc theo dõi ghi nhận hiệu quả của các mô hình, kết quả điều tra ghi nhận ý kiến của người nông dân thực hiện chăn nuôi. - Qua việc thực hiện các mô hình thì tạo tiền đề cho việc ứng dụng rộng rãi chế phẩm trong xử lý chất thải chăn nuôi góp phần cải thiện môi trường nông thôn, tạo niềm tin của người nông dân qua việc thực hiện chế phẩm để xử lý chất thải chăn nuôi, chỉ ra các hiệu quả thiết thực từ việc làm đó đối với cuộc sống. - Phân tích các chi phí lợi ích sau khi sử dụng chế phẩm sinh học.
Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực đúng với thực tế tại địa phương tiến hành thực tập. - Các mô hình thử nghiệm phải tuân thủ theo quy tắc an toàn, đảm bảo vệ sinh và theo đúng tỷ lệ các thành phần theo chỉ định của loại chế phẩm sinh học. - Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi trong phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước: Bộ câu hỏi phải dễ hiểu, đầy đủ các thông tin cần thiết từ các hộ dân cư, các ý kiến phản hồi đánh giá đầy đủ. - Phân tích các chỉ tiêu cần thiết trong quá trình thực tập để việc thực tập đạt được kết quả cao nhất, phản ánh đúng hiện thực và mục tiêu đề ra.
- Kết luận phản ánh đúng thực trạng, kiến nghị phải phù hợp với tình hình phát triển và ý kiến của dân cư trong toàn địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này. - Việc thực hiện trong thực tế giúp nâng cao việc áp dụng các tiến bộ trong nghiên cứu đến với người nông dân.
- Nâng cao trình độ tay nghề, là những bước đầu quan trọng trong việc trải nghiệm thực tế đến với công việc tương lai sau này, tạo kỹ năng làm việc độc lập, phát huy tinh thần tự giác, trách nhiệm đối với công việc được giao. Ý nghĩa trong thực tiễn - Khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí do chất thải chăn nuôi theo hướng thân thiện với môi trường. - Cải thiện môi trường xung quanh về hiện trạng đất, nước, không khí. - Đẩy lùi được nhiều bệnh dịch nguy hiểm đối với con người và sinh vật xung quanh.
- Chi phí lợi ích có lợi cho người chăn nuôi, làm giảm thời gian và công sức lao động. - Đưa các chế phẩm sinh học có lợi đến với người nông dân có tham gia sản xuất, chăn nuôi, hiểu về những vướng mắc chưa được giải quyết trong chăn nuôi của người nông dân tại địa phương. - Áp dụng rộng rãi việc sử dụng chế phẩm BIO - TMT trong hoạt động chăn nuôi tại địa phương. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm chất thải Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra môi trường, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại có lợi ích với người khác.
Trong cuộc sống của chúng ta chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với các chất độc hại được xuất ra từ chúng có ảnh hưởng đến chúng ta. Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, trong quá trình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa, thương mại, dịch vụ, giao thông, y tế, xây dựng,. đa số là các chất thải có hại và không có khả năng tái chế, tái sử dụng.2 Khái niệm chất thải chăn nuôi Chất thải chăn nuôi là nhưng sản phẩm không mong muốn, được thải ra trong quá trình chúng ta thực hiện việc chăn nuôi và các hoạt động của con người tạo ra chất thải khác nhau để phục vụ việc chăn nuôi. Nếu không có các bước xử lý tốt thì chất thải chăn nuôi dễ gây ra ô nhiễm môi trường xung quanh, tất nhiên chất thải chăn nuôi cũng có lợi ích điển hình như làm phân bón cho cây trồng,.
Chất thải chăn nuôi thường là: Phân, nước tiểu, khí độc, vỏ bao bì, chất độn chuồng,. Giới thiệu về chế phẩm E.M (Effective Microorganisms) có nghĩa là các vi sinh vật hữu hiệu. Chế phẩm này do Giáo sư Tiến sĩ Teruo Higa - trường Đại học Tổng hợp Ryukyus, Okinawoa, Nhật Bản sáng tạo và áp dụng thực tiễn vào đầu năm n 6 1980. Trong chế phẩm này có khoảng 80 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí thuộc các nhóm: Vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn.
80 loài vi sinh vật này được lựa chọn từ hơn 2.000 loài được sử dụng phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ lên men. Bao gồm 5 nhóm vi sinh vật: + Vi khuẩn Bacillus. + Vi khuẩn quang hợp. + Vi khuẩn Lactic.
Năm nhóm vi khuẩn này tạo ra axit amin tự do, axit hữu cơ, vitamin hòa tan trong nước, kháng sinh tự nhiên và tạo ra các hoóc môn tự nhiên. Vì thế khi các vi khuẩn này được sử dụng vào trong tự nhiên sẽ tạo ra mối liên kết nhằm khống chế các vi khuẩn gây hại đối với các loại cây trồng và vật nuôi, giúp xử lý hiệu quả mùi hôi, thối từ chất thải chăn nuôi.M Là công nghệ sản xuất và sử dụng chế phẩm E.M, là nội dung kỹ thuật quan trọng trong và cốt lõi của “Nông nghiệp thiên nhiên cứu thế” do các nhà khoa học Nhật Bản mà đứng đầu là tiến sỹ nông học Teruo Higa của trường đại học Ryukyus (Nhật bản) phát minh và khởi xướng với bốn mục tiêu lớn là: - Sản xuất đủ lương thực và thực phẩm cho thị trấn hội. - Sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch và an toàn cho sức khoẻ con người. - Sản xuất có hiệu quả kinh tế và tinh thần cho cảc người sản xuất và tiêu dùng.
- Đảm bảo sự bền vững của nông nghiệp và môi trường. n 7 * Nguyên lý dẫn đến sự ra đời của chế phẩm E.M Với quan điểm sử dụng các chủng vi sinh vật có ích trong nông nghiệp chế phẩm E.M ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: - Nguyên lý thứ nhất: Sản xuất nông nghiệp bắt đầu bằng quá trình quang hợp của cây xanh. Để tiến hành quá trình quang hợp thì cây xanh cần phải ánh sáng mặt trời, nước và khí cacbonic (CO2).