CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tiềm năng khoáng sản bauxite trên thế giới và ở Việt Nam. Khái niệm Bauxite là một loại quặng nhôm trầm tích có màu hồng hoặc nâu, được hình thành trên các đá chứa hàm lượng sắt thấp hoặc sắt bị rửa trôi trong quá trình phong hóa nhưng giàu nhôm hoặc nhôm được tích tụ từ các quặng có trước do quá trình xói mòn. Quặng bauxite phân bố chủ yếu trong vành đai xung quanh xích đạo, đặc biệt trong môi trường nhiệt đới. Từ bauxite được xem là nguyên liệu chính để sản xuất alumin.
Bauxite không phải là dạng khoáng vật riêng rẽ, mà là hỗn hợp dạng keo của hydroxit nhôm, sắt với xút và nước.Quặng bauxite thường có cấu tạo dạng đá cứng hoặc bở rời, dạng trứng cá hoặc hạt đậu, dạng lỗ hổng, dăm kết và các dạng khác.Tiềm năng khoáng sản bauxite trên thế giới Theo số liệu thống kê mới nhất của Sở Địa chất Mỹ tháng 01 năm 2013 (U. Mineral Commodity Summaries 2013) thì tài nguyên bauxite trên thế giới có khoảng từ 55 đến 75 tỷ tấn. Theo đó trữ lượng bauxite khoảng 28 tỷ tấn phân bố ở hơn 40 quốc gia, trong đó Châu Phi chiếm 32%, Châu Đại Dương 23%, Nam Mỹ và Caribean 21%, Châu Á 18% và các nước còn lại chiếm 6%. Thống kê cho thấy có 5 quốc gia có trữ lượng bauxite trên 1 tỷ tấn là Guinea (7,4 tỷ tấn), Australia (6 tỷ tấn), Brazil (2,6 tỷ tấn), Jamaica (2 tỷ tấn) và Việt Nam (2,1 tỷ tấn).
Tài nguyên bauxite ở các châu lục trên thế giới Châu lục Phần trăm Châu Phi 32% Châu Đại Dương 23% Nam Mỹ và Caribbean 21% Châu Á 18% 3 z Luận văn thạc sĩ – K19 KHMT Các nước có trữ lượng bauxite đều tiến hành khai thác bauxite để sử dụng trong nước và xuất khẩu. Trên thế giới hiện có 30 nước với 111 nhà máy chế biến alumin và 40 nước với 156 nhà máy điện phân nhôm kim loại. Dưới đây là bảng thống kê trữ lượng và sản lượng khai thác bauxite trên thế giới trong năm 2011 và 2012 Bảng 1. Trữ lượng và sản lượng khai thác bauxite trên thế giới (nghìn tấn) Sản lượng Trữ lượng STT Nước 2011 2012 chắc chắn 01 United States NA NA 20.000 Toàn cầu (số 18 259.000 làm tròn) Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường [34] 4 z Luận văn thạc sĩ – K19 KHMT Theo số liệu thống kê ở bảng 1.1 có thể thấy Việt Nam có trữ lượng bauxite đứng thứ 4 trên thế giới sau các nước Guninea (7,4 tỷ tấn), Australia (6 tỷ tấn), Brazil (2,6 tỷ tấn).
Trong năm 2012 sản lượng khai thác bauxite của Australia là cao nhất thế giới (73 triệu tấn), tiếp đó đến Trung Quốc (48 triệu tấn), Brazil đứng thứ 3 với 34 triệu tấn. Mặc dù có trữ lượng bauxite lớn thứ 4 thế giới (chiếm 7,5% trữ lượng bauxite thế giới) nhưng sản lượng khai thác của Việt Nam còn rất nhỏ (600 nghìn tấn vào năm 2011 và năm 2012 giảm xuống còn 300 nghìn tấn) chỉ chiếm khoảng 1,14% sản lượng của thế giới. Như vậy với trữ lượng bauxite lớn, Việt Nam có tiềm năng phát triển công nghiệp khai khoáng và chế biến nhôm để đáp ứng nhu cầu nhôm trong nước và xuất khẩu.Tiềm năng khoáng sản bauxite ở Việt Nam. Về mặt địa chất, lãnh thổ Việt Nam nằm ở phần trung tâm Đông Nam Á thuộc mảng thạch quyển Á - Âu có lịch sử phát triển địa chất lâu dài từ Arkei đến hiện đại, lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên hình thành nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng.Quặng bauxite ở miền Bắc Việt Nam được phát hiện từ trước cách mạng tháng 8.
Các nhà địa chất Pháp R. Vào thời gian 1938 – 1939, người Pháp đã khai thác mỏ bauxite Tam Lung để lấy 30 tấn quặng và mỏ ở Bản Lỏng – 160 tấn quặng. Cũng trong thời gian đó, quặng bauxite được phát hiện ở các nơi khác, trong đó có Hải Dương. Quặng bauxite ở miền Bắc Việt Nam chủ yếu là loại bauxite trầm tích có tuổi Permi muộn nằm trên mặt bào mòn của đá vôi Carbon - Permi, rất ít mỏ nằm trên mặt bào mòn đá vôi tuổi Devon.
Thành phần khoáng vật quặng bauxite trầm tích chủ yếu là boehmite và diaspore. Ở miền Bắc Việt Nam cũng có một số ít quặng bauxite laterite trong vỏ phong hóa các đá bazan tuổi Pliocen - Pleistocen nhưng tài nguyên nhỏ, không có giá trị công nghiệp. 5 z Luận văn thạc sĩ – K19 KHMT Ở miền Nam Việt Nam, quặng bauxite được phát hiện muộn hơn. Những nhận định ban đầu về sự có mặt của quặng bauxite laterit trên các cao nguyên bazan Tây Nguyên thuộc về các nhà địa chất M.
Tiếp theo đó, sau năm 1975, công tác nghiên cứu địa chất đã được tiến hành rộng khắp trên toàn bộ lãnh thổ phía Nam Việt Nam, dẫn đến là rất nhiều điểm quặng và mỏ bauxite đã được phát hiện và ghi nhận trên bản đồ địa chất như: Kon Plong, Kon Hà Nừng, Đăk Nông, Bảo Lộc… ở Tây Nguyên.; Bình Long ở Đông Nam Bộ; Vân Hòa, Thiên Ấn ở Nam Trung Bộ. Gần đây (năm 2010) một kết quả thống kê chuyển đổi trữ lượng và tài nguyên bauxite laterite về một "mặt bằng cấp trữ lượng và tài nguyên" theo quy định về thăm dò, phân cấp trữ lượng và tài nguyên bauxite cho thấy tổng trữ lượng và tài nguyên bauxite laterite của 23 mỏ ở Tây Nguyên được 2,522 tỷ tấn quặng tinh (+1mm), giảm 566 triệu tấn quặng tinh (18,3%) so với dự kiến. Trữ lượng quặng tinh có thể huy động vào nghiên cứu khả thi khai thác đạt 314,159 triệu tấn (15,64% so với tổng tài nguyên tinh quặng). Trữ lượng đã được cấp phép khai thác 50,739 triệu tấn chiếm 16,15% trong tổng trữ lượng quặng tinh và chỉ đạt 2,01% tổng trữ lượng và tài nguyên quặng tinh nêu trên.
Cho đến nay (tháng 2/2012), kết quả thăm dò 4 mỏ bauxite laterite ở Đăk Nông và Bình Phước đạt tổng trữ lượng là 1.346,129 triệu tấn quặng nguyên khai, tương đương 520,901 triệu tấn tinh quặng (+1mm), giảm so với số dự kiến ở 4 mỏ tương ứng là 548,6 triệu tấn quặng nguyên khai (giảm 28,95% so với dự kiến), tương đương giảm 329,3 triệu tấn tinh quặng (giảm 38,73%). Kết quả này cho thấy nhận định chung rằng "thường khi thăm dò tỉ mỉ đều cho trữ lượng và chất lượng tăng" không phải hoàn toàn đúng 6 z Luận văn thạc sĩ – K19 KHMT Bảng 1. Thống kê các mỏ bauxite laterite chính ở miền Nam Việt Nam Trữ lượng quặng tinh đã Quặng Mức Diện được phê duyệt hoặc dự nguyên độ STT Tên mỏ tích kiến đạt được (Triệu tấn) khai thăm (Km2) Trữ Tài (Triệu dò Tổng lượng nguyên tấn) 1 1-5 123 Đã 97,3 36,3 133,6 283,7 2 Gia Nghĩa 117,5 Đã 95,7 44 139,7 308,5 3 Tân Rai 70 Đã 37,7 79 116,7 236 4 Tây Tân Rai 43 Đã 53,3 6,5 59,8 148,8 5 Đồi Thắng Lợi 3 Đã 2,7 2,7 5,4 Tổng 356,5 452,5 982,4 6 Kon Nà Nừng 67,5 Đang 52,7 52,7 117,1 7 Bắc Gia Nghĩa 142,5 Đang 189,7 189,7 462,6 8 Đắk Song 228 Đang 326,2 326,2 795,5 9 Gia nghĩa 2 205,5 Đang 253,4 253,4 618,1 Đông Bắc và Tây 10 Nam 1-5 174,6 Đang 162,7 162,7 396,8 11 Nhân Cơ 286 Đang 269,4 269,4 660 12 Tân Rai (TKV) 94,5 Đang 341 341 643,7 13 Bảo Lộc (TKV) 67,8 Đang 162 162 306,1 14 Thống Nhất 341,3 Đang 291 291 582 15 Thọ Sơn 158,9 Đang 116,1 116,1 232 16 Quảng Sơn 83,6 Đang 115,4 115,4 281,5 17 Tuy Đức 240 Đang 310,4 310,4 757,7 18 TCTy Hóa Chất 36,7 Đang 38 38 66,1 19 Vân Hòa 5 Đang 8 8 16 Tổng 2131,9 2636 5935,2 Tổng cộng 2488,4 3088,5 6917,6 Nguồn: Đề án "Điều tra đánh giá tổng thể tiềm năng quặng bauxite, quặng sắt laterite Miền Nam Việt Nam" [27, 64] 7 z Luận văn thạc sĩ – K19 KHMT Như vậy Tây Nguyên có tiềm năng khai thác bauxite lớn đặc biệt là ở Đăk Nông, Gia Nghĩa và Di Linh, Bảo Lộc. Trên cơ sở đó hai nhà máy sản xuất alumin đầu tiên của Việt Nam đã được xây dựng tại Tân Rai, Bảo Lộc, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Gia Nghĩa, Đăk Nông.
Dưới đây là số liệu về thành phần hóa học trong các mẫu quặng bauxite được khai thác Bảng 1. Thành phần quặng bauxite nguyên khai ở các khu mỏ Tây Nguyên Mẫu Gia Thành phần hoá học, Mẫu Tân Rai Mẫu Nhân Cơ Nghĩa % (AP-Pháp) (CSIRO-Úc) (ALCOA-Úc) Al2O3 47,1 49,58 47,7 SiO2 2,68 2,46 5,9 Fe2O3 21,1 17,3 18,9 TiO2 2,62 2,69 2,9 M. Hoạt động khai thác, chế biến bauxite Tây Nguyên và các vấn đề môi trường phát sinh. Đặc điểm chung của hoạt động khai thác, chế biến bauxite Tây Nguyên Hoạt động khai thác và chế biến bauxite ở Tây Nguyên ở 2 tỉnh Lâm Đồng và Đăk Nông đều có những nét tương đồng.
Đó là lớp quặng bauxite nằm gần mặt đất dưới một lớp phủ mỏng, nằm trên mực nước ngầm và có chiều dày trung bình từ 4 – 5m, nhưng lại trải dài trên diện rộng của bề mặt địa hình dạng đồi, do vậy dễ dàng khai thác bằng công nghệ mông mỏ nội thiên với các phương tiện cơ giới trong khai đào, bốc xúc, vận chuyển. Chất lượng quặng tốt, tạp chất chủ yếu là sét, do đó có thể tuyển rửa trong môi trường nước đạt đến độ sạch là 99% để thu hồi tinh quặng ở cấp hạt ≥ 1mm. Thành phần khoáng vật của quặng chủ yếu là Gibsit nên rất thuận lợi để sản xuất Alumina theo phương pháp bayer với thiết bị công nghệ (trước mắt) nhập từ Trung Quốc. Nước phục vụ cho việc sản xuất được lấy từ các nguồn nước mặt, điện được lấy từ các nhà máy nhiệt điện tự xây tại khu vực nhà máy Alumina.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào vị trí của mỏ bauxite, của nhà máy Alumina và điều kiện cụ thể của từng địa bàn, có thể có sự khác nhau chút ít trong hệ số bóc đất phủ, trong vận chuyển quặng bằng ô tô, băng tải, hoặc kết hợp trong thu dọn thảm thực vật là rừng tự nhiên, rừng trồng hoặc thảm cây trồng nông nghiệp. Suy rộng ra đến các khu vực dự án bauxite – Alumin khác trên lãnh thổ Tây Nguyên, có thể cho rằng nguồn gây tác động và các đối tượng của môi trường tự nhiên bị tác động về cơ bản là rất giống nhau. Trên cơ sở đó có thể khái quát việc 9 z Luận văn thạc sĩ – K19 KHMT phân tích, đánh giá tác động môi trường của một hoạt động khoáng sản bauxite và quy tụ chúng trong một tiến trình gồm hai giai đoạn: 1, Khai thác và tuyển quặng bauxite và 2, Sản xuất Alumina từ quặng bauxite .