CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn 1. Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn trong hệ thống phân loại động vật Tổng hợp nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [16], Chu Thị Thơm và cs (2006) [42], Phan Lục và cs (2006) [29] cho rằng: có hơn 5.000 loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có gần 2.000 loài giun tròn sống tự do, hơn 3.000 loài giun tròn sống ký sinh.
Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ: + Bộ phụ giun đũa (Ascaridata) + Bộ phụ giun kim (Oxyurata) + Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata) + Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata) + Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata) + Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata) + Bộ phụ giun chỉ (Filariata) + Bộ phụ Dioctophymata Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26], hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được sắp xếp theo vị trí như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chit wood, 1993 Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skjabin et Schulz, 1928 HọTrichocephalidea Bard, 1953 n 4 Phân họTrichocepphalus Ransomi, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788 Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum, (Rudolphi, 1803) Loài Oesophagostomum brevicaudatum (Shwartz et Alicata, 1930) Loài Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925) Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933 Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879 Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856) Loài Strongyloides ransomi (Schwartz et Alicata, 1930) Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Ascaris Linacus, 1758 Giống Ascaris Linnaeus, 1758 Loài Ascaris suum Goeze, 1782 1. Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn Nguyễn Thị Lê (1998) [27] cho rằng: Giun tròn ký sinh gây bệnh nguy hiểm cho người, động vật chủ yếu gồm các đại diện thuộc các bộ sau: Trichocephaliada, Strongyloidida, Oxyurida, Ascaridida, Spirurida. n 5 Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] cho biết, thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn gồm: TT Loài Vị trí ký sinh 1 Trichocephalus suis Schrank, 1788 Ruột già 2 Ascaris suum Goeze, 1782 Ruột non Gnathostoma dororesi Tubangui,1925 3 Gnathostoma hispidum Fedtschenko, 1872 Dạ dày 4 Strongyloides papillosus Wedl, 1856 Ruột non 5 Strongyloides ransomi Schwartz et Alicata, 1930 Ruột non Ruột già, 6 Pseudocruzia orientalis Maplestoue, 1930 manh tràng 7 Globocephalus longgemucronatus Molin, 1861 Ruột non 8 Raillietostrongylus samoensis Lane, 1922 Ruột non Oesophagostomum dentatum (Rudolphi, 1803) 9 Oesophagostomum brevicaudatum (Shwarts et Alicata,1930) Ruột già Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925) 10 Baurgelatia diducta Railliet, Henry et Bauche, 1919 Ruột 1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn.
Giun tròn thuộc lớp Nematoda, ngành Nemathelminthes, cơ thể hình ống, hình sợi nhưng hai đầu thon nhỏ dần hoặc hình ống phân thuỳ, cơ thể hình thoi, hình tròn, hai bên đối xứng có mặt lưng và mặt bụng không phân đốt. Đầu tù, đuôi nhọn, có giun đực và giun cái. Giun cái lớn hơn giun đực, giun đực đuôi cong, giun cái đuôi thẳng. Kích thước giun thay đổi tuỳ loài.
Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di chuyển được. Sau lớp cơ có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất của giun. Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang cơ thể có chứa các khí quan: + Hệ tiêu hoá: Giun tròn có hệ tiêu hoá khá hoàn chỉnh. Có một ống dài chạy dọc theo thân gồm: môi, miệng, thực quản, ruột, trực tràng, và tận cùng là hậu môn.
+ Hệ bài tiết: Gồm có hai ống bắt nguồn từ phía sau và hợp lại ở phía trước rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản. n 6 + Hệ thần kinh: Gồm có một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra nhiều nhánh thần kinh đi về phía trước và sau tới các phần của cơ thể. Có nhiều nhánh nhỏ nối với các nhánh chính này. Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằm trong các gai ở đầu, cổ, thân giun - đó là các gai cảm giác.
+ Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt). Giun tròn đường tiêu hóa của lợn đều mang những đặc điểm chung của lớp giun tròn Nematoda, ngành Nemathelminthes như trên. Song, mỗi loài giun tròn đều có những đặc điểm đặc trưng riêng cho từng loài. Căn cứ vào những đặc điểm đó khi mổ khám ta có thể phân biệt sơ bộ các loài với nhau.
* Giun đũa lợn (Ascaris suum) Theo các tác giả Trịnh Văn Thịnh (1977) [38], Đào Trọng Đạt và cs (1995) [8], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] thì: giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris suum ký sinh ở ruột non lợn: giun màu trắng sữa. Hình ống, hai đầu hơi nhọn. Đầu có 3 môi bao quanh miệng. Trên rìa môi có 1 hàng răng cưa rất rõ.
Nghiên cứu về cấu tạo kích thước của loài giun này, Nguyễn Thị Lê (1996) [26] cho biết: Con đực dài 100 - 220 mm, rộng 2,7 - 3,0 mm. Đuôi thường cong về phía bụng. Con cái dài 290 - 300 mm, rộng 4 - 5 mm. Có 2 buồng trứng, 2 ống dẫn trứng, tử cung là một ống hẹp.
Âm đạo ngắn, mở ra ở lỗ sinh dục cái nằm ở bụng. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19]: trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước từ 0,056 - 0,087mm x 0,046 - 0,067mm, vỏ dầy gồm 4 lớp vỏ, lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng. Môi giun đũa lợn 2. Đuôi giun đũa đực 3.
Trứng Ascaris suum Hình 1. Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun đũa lợn n 7 * Giun lươn ở lợn Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22] cho biết: tác nhân gây bệnh giun lươn ở Việt Nam là hai loài giun lươn Strongyloides ransomi, Strongyloides papillosus thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột non của lợn. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26] mô tả loài Strongyloides ransomi như sau: - Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): Con cái: Cơ thể dài 2,1 - 4,2 mm, rộng nhất 0,04 - 0,08 mm. Lỗ miệng có 4 môi với các núm cutin.
Thực quản dài 0,58 - 0,94 mm. Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể, có 2 buồng trứng. Đuôi ngắn, thẳng, hình nón. Trứng hình ô van, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng có ấu trùng.
Con đực: Cơ thể hình sợi dài 0,87 - 0,9 mm. Lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm. Đuôi nhọn, cách mút đuôi 0,037 mm có 3 cặp núm. Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun lươn ký sinh ở lợn a 1: Giun cái sống ký sinh b 1: Phần đầu cơ thể 2: Giun đực 2: Đuôi cá thể đực 3: Ấu trùng gây nhiễm n 8 - Loài Strongyloides papillosus Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [24], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] loài Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau: - Con đực chưa được mô tả.
- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm. Lỗ miệng có 4 môi. Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm. Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm.
Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục. Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp. Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau. Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm, trong trứng có ấu trùng.
*Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum) Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], Các loài thuộc giống Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn. Con đực: cơ thể dài 6,2 - 6,8 mm, rộng 0,31 - 0,049 mm. Con cái: cơ thể dài 7,4 - 11,5 mm, rộng nhất 0,31 - 0,45 mm. Trứng có kích thước 0,05 - 0,08 x 0,03 - 0,04 mm.
Túi đuôi giun đực C. Phần đuôi giun cái D. Hình thái, cấu tạo một số bộ phận của giun kết hạt n 9 * Giun tóc (Trichocephalus suis) Đối với đặc điểm hình thái của giun tóc, các tác giả Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: giun có màu trắng đục, giống một sợi tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 - 0,713 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại.
Chỉ có gai giao hợp dài 5 - 7 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phần cuối của giun. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào phần cuối của thân. Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, có kích thước 0,052 - 0,061 mm x 0,027 - 0,03 mm. Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun tóc 1.
Vòng đời của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn * Vòng đời phát triển của giun đũa lợn Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: vòng đời của giun đũa lợn thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung gian. Giun cái đẻ mỗi ngày khoảng 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 24oC và độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trong trứng hình thành ấu trùng, sau 1 tuần nữa thì ấu trùng lột xác. Lúc đó trứng đã trở thành trứng có sức gây bệnh.
Thời gian hoàn thành vòng đời cần 54 - 62 ngày. n 10 Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23]: giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân. Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng, nhưng nếu điều kiện sống bất lợi như khi ký chủ bị sốt cao thì tuổi thọ giun ngắn hơn. * Vòng đời phát triển của giun lươn Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong.
Trứng ra ngoài sẽ phát triển theo hai hướng: trực tiếp và gián tiếp.