Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học cổ điển Trung Quốc (hướng nghiên cứu: Văn học Đường - Tống) với đề tài "Nghiên cứu các tuyển tập thơ Đường tại Việt Nam" (tên nguyên tác: 越南唐诗选本研究 / Research on the anthologies of Tang Poetry in Vietnam) được nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Lĩnh (NGUYEN HONG LINH / 阮红玲) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Thang Giang Hạo (汤江浩 教授) tại Học viện Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hoa Trung (Trung Quốc), hoàn thành vào tháng 12 năm 2022 và bảo vệ vào tháng 01 năm 2023.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ                                            |
+----------------------+--------------------------------------------------------+
| Tác giả              | NGUYEN HONG LINH (Nguyễn Hồng Lĩnh / 阮红玲)           |
| Người hướng dẫn      | GS. Thang Giang Hạo (Prof. Tang Jianghao / 汤江浩 教授) |
| Chuyên ngành         | Văn học cổ điển Trung Quốc (中国古代文学)               |
| Hướng nghiên cứu     | Văn học Đường - Tống (唐宋文学)                        |
| Cơ sở đào tạo        | Học viện Văn học, Đại học Sư phạm Hoa Trung, Trung Quốc|
| Thời gian hoàn thành | Tháng 12/2022 (Ký cam đoan & nộp lưu chiểu: 01/2023)   |
+----------------------+--------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn học Trung Quốc có ảnh hưởng sâu rộng đến văn học Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc (quận huyện) kéo dài qua các triều đại phong kiến độc lập. Thơ Đường giữ vị trí trung tâm trong đời sống thi ca cổ trung đại Việt Nam, được tiếp nhận qua hai ngôn ngữ chữ Hán và chữ Nôm, sau đó tiếp tục duy trì ảnh hưởng sang chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX. Quá trình truyền bá và bản địa hóa thơ Đường gắn liền với sự xuất hiện, lưu hành của các tuyển tập thơ Đường (tuyển bản - 选本) và bản dịch thơ Đường (dịch bản - 译本).

Tuy nhiên, giới học thuật trước đây tại cả Trung Quốc và Việt Nam chủ yếu tập trung nghiên cứu ảnh hưởng vĩ mô của thơ Đường đối với văn học trung đại hoặc khảo sát sự tiếp nhận các tác gia riêng lẻ (Lý Bạch, Đỗ Phủ) trên phương diện thi pháp. Chưa có công trình chuyên khảo nào thống kê, khảo sát văn bản học toàn diện và hệ thống về các tuyển tập thơ Đường chữ Hán được du nhập, khắc in lại tại Việt Nam, cũng như quá trình biên soạn các tuyển tập dịch Nôm và dịch Quốc ngữ. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống các tuyển tập thơ Đường là yêu cầu cần thiết nhằm bổ khuyết khoảng trống tư liệu và cung cấp góc nhìn thực chứng cho lịch sử giao lưu văn học Trung - Việt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa con đường, phương thức truyền bá và bối cảnh lịch sử của thơ Đường vào Việt Nam từ thời kỳ An Nam (thời Đường) đến các triều đại phong kiến độc lập và cận - hiện đại.
  2. Điều tra, phân loại, thống kê và lập thư mục danh dẫn các văn bản tuyển tập thơ Đường bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ hiện còn lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
  3. Phân tích mối quan hệ ngữ âm giữa âm Đường - Tống và âm Hán Việt trung cổ nhằm lý giải cơ sở âm luật trong việc ngâm vịnh, tiếp nhận thi pháp Đường luật tại Việt Nam.
  4. Khảo cứu lịch sử ngành in mộc bản, kỹ thuật in thạch bản, các phường thợ khắc in và nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm, thất tán của thư tịch cổ Hán Nôm tại Việt Nam.
  5. Đánh giá tiêu chí tuyển chọn, phương thức diễn dịch, đặc điểm bình giải của các tuyển tập và làm rõ tác động nhiều mặt của tuyển tập thơ Đường đối với sáng tác văn học (chữ Hán, chữ Nôm, Thơ mới), chế độ khoa cử, giáo dục học đường và nghiên cứu học thuật tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các văn bản tuyển tập, tuyển dịch, trích dịch, chú giải và bình luận thơ Đường được thể hiện qua ba hệ thống văn tự: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ hiện diện trong không gian văn hóa Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm khảo sát từ mốc Đinh Bộ Lĩnh thành lập chính quyền độc lập năm 968 đến thời hiện đại, kết hợp truy nguyên nguồn gốc tiếp xúc văn hóa từ thời kỳ nhà Đường (618–907).
  • Phạm vi không gian tư liệu: Tập trung tại các kho lưu trữ văn hiến lớn của Việt Nam (Thư viện Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện Khoa học Xã hội) kết hợp đối sánh với các ấn bản cổ tịch tàng trữ tại Trung Quốc (Thượng Hải, Tô Châu...).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm duyệt toàn diện tình hình nghiên cứu của giới học thuật Việt Nam, Trung Quốc và khu vực Đông Á liên quan đến đề tài.

1. Nghiên cứu của giới học thuật Việt Nam

  • Về diện mạo dịch thuật và văn bản thơ Đường: Nguyễn Quảng Tuân trong bài viết "Những bài dịch Đường thi đầu tiên trong văn học Việt Nam" (Tạp chí Hán Nôm, 1985) xác định bản dịch thơ Đường sớm nhất bằng chữ Nôm xuất hiện trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Trần Xuân Diện và Trần Ngọc Đông trong chuyên khảo Đường thi quốc âm cổ bản (NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2017) giới thiệu, thống kê thể thơ Nôm Đường luật, chú giải các bản dịch Nôm cổ và truy nguyên xuất xứ văn bản. Trần Nghĩa và Mai Quốc Liên (1982) đề cập khái quát tình hình dịch Nôm thơ Đường trong kỷ yếu hội thảo dịch thuật Hán - Việt. Trần Trung Hỷ (2000) công bố bài nghiên cứu "Việt Nam Đường thi nghiên cứu hòa phiên dịch đích tình huống" trên Đường đại văn học nghiên cứu niên giám. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tuyết Hạnh (Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam, NXB Văn học, 2006) khảo sát ngôn ngữ dịch thuật, đặc biệt là vai trò của âm Hán Việt. Luận án tiến sĩ của Lê Thị Huyền Trang (Đường thi phiên dịch dữ Việt Nam thi ca thể tài chi hình thành cập phát triển, Đại học Sư phạm Hoa Đông, 2014) phân tích ảnh hưởng của dịch thơ Đường đến sự hình thành thể tài thơ Việt Nam qua Truyện Kiều của Nguyễn Du và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
  • Về thi pháp, tác gia và sự tiếp nhận thơ Đường: Trần Đình Sử (Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005), Trần Ngọc Vương (Văn học Việt Nam từ thế kỉ X – XIX những vấn đề lí luận và lịch sử, NXB Giáo dục, 2007), Lã Nhâm Thìn (Thơ Nôm Đường luật, NXB Đại học Sư phạm, 1993) định vị vị trí của thơ Đường trong văn học trung đại. Về thi pháp và thể tài có các công trình của Nguyễn Sĩ Đại (1995), Nguyễn Thị Bích Hải (2009), Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử (1997), Lương Duy Thứ (2004), Đinh Vũ Thùy Trang (2010), Đinh Thị Hương (2012), Phạm Vũ Lan Anh (2019). Về chuyên khảo tác gia Lý Bạch, Đỗ Phủ có nghiên cứu của Phạm Hải Anh (1996), Trần Trung Hỷ (1998, 2002), Hồ Sĩ Hiệp (1993), Hoàng Trọng Quyền (2012), Nguyễn Phúc Tâm (2019), Lê Văn Miếu (2013). Về ảnh hưởng đối với Thơ mới và giáo dục có Lê Thị Anh (2005), Đào Đồng Điện (2014), Nguyễn Ái Học (2009), Phạm Thị Hiền (2017).

2. Nghiên cứu của giới học thuật Trung Quốc

  • Về Hán văn Việt Nam và giao lưu văn học Trung - Việt: Hoàng Dật Cầu (Việt Nam Hán thi lược, 1959), Lưu Xuân Ngân, Vương Tiểu Thuẫn và Trần Nghĩa (Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu, 2002), Lưu Ngọc Quân (Việt Nam Hán Nôm cổ tịch đích văn hiến học nghiên cứu, 2007; nghiên cứu về Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm), Trần Ích Nguyên (Việt Nam Hán tịch văn hiến thuật luận, 2011), Trương Bá Vĩ (Đông Á Hán văn học nghiên cứu đích phương pháp dữ thực tiễn, 2017; Tác vi phương pháp đích Hán văn hóa quyển, 2011), Hoàng Cường (2011), Trương Hải Ninh (2018).
  • Về tuyển tập thơ Đường tại Trung Quốc: Các công trình tổng thuật của Tôn Cầm An (Đường thi tuyển bản lục bách chủng đề yếu, 1987), Đinh Phóng (Đường Tống thi văn tuyển bản chỉnh lý dữ nghiên cứu), Kim Khuê Sinh (Minh đại Đường thi tuyển bản nghiên cứu, 2007), Hạ Nghiêm (Thanh đại Đường thi tuyển bản nghiên cứu, 2007), Tông Thụy Băng (2015), Vương Thuận Quý (2013), Trần Quốc Cầu (1993), Hứa Liên Quân (2003, 2004), Tôn Hân Hân và Vương Thải Mai (2011), Tiết Bảo Sinh (2014), Hà Thủy Anh (2014), Thân Đông Thành (2012), Nhạc Tiến (2013).

3. Nghiên cứu tuyển tập thơ Đường tại Đông Á (Nhật Bản, Triều Tiên/Hàn Quốc)

Các học giả khảo sát quá trình bản địa hóa tuyển tập thơ Đường tại Nhật Bản và Hàn Quốc như Ngô Vũ Bình (2009), Trương Siêu (2021), Thẩm Văn Phàm (Đỗ Phủ vận văn Hàn Quốc Hán thi tiếp thu văn hiến tập khảo, 2017), Tra Thanh Hoa chủ biên (Đông Á Đường thi học nghiên cứu luận tập, 2021).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Trong khi các nghiên cứu đi trước phân tích ảnh hưởng văn học ở cấp độ vĩ mô hoặc tiếp cận chủ yếu qua bản dịch Quốc ngữ hiện đại, luận án này trực tiếp khảo sát hệ thống văn bản tuyển tập gốc bằng chữ Hán (bản truyền nhập, bản khắc lại), chữ Nôm và chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu lưu trữ tại các thư viện Việt Nam. Luận án giải quyết mắt xích trung gian quan trọng: hình thái văn bản của các tuyển tập đã định hình phương thức tiếp nhận, bình chú và sáng tác thơ Đường tại Việt Nam như thế nào.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  1. Văn bản học và Thư mục học cổ tịch (Philology & Bibliography): Ứng dụng lý thuyết giám định thư tịch cổ, phân loại bản in (mộc bản, thạch bản), khảo dị văn bản, xác định nguồn gốc bản khắc (phường in, quan khắc, tư khắc, tự viện) và diễn biến lưu truyền văn bản.
  2. Ngữ âm học lịch sử và Thi pháp học: Vận dụng thành tựu của Nguyễn Tài Cẩn (Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, 1979) và Nguyễn Đình Hiền (2011) về hệ thống âm Hán Việt thời Đường - Tống, đối chiếu với 30 thanh mẫu của Sa môn Thủ Ôn để phân tích cấu trúc niêm luật, vần, đối ngẫu trong ngâm vịnh thơ Đường.
  3. Lý thuyết tiếp nhận (Reception Theory) và Truyền bá học (Communication Studies): Xem xét quá trình tiếp nhận của văn nhân Việt Nam không phải là sự tiếp thu thụ động mà là quá trình chọn lọc, diễn giải, bản địa hóa và tái tạo thể loại.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp nghiên cứu văn hiến (文献研究法): Tiến hành thống kê, phân loại, mô tả thư mục hình thái học đối với toàn bộ các bản tuyển tập thơ Đường tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Khoa học Xã hội.
  • Phương pháp đọc kỹ văn bản (文本细读法): So sánh đối chiếu vi mô giữa nguyên tác chữ Hán với các bản dịch Nôm (thể Đường luật, thể Lục bát, thể Song thất lục bát) và bản dịch Quốc ngữ để chỉ ra phương thức chuyển dịch cấu trúc ngữ nghĩa, từ ngữ và phong cách nghệ thuật.
  • Phương pháp lịch sử - so sánh văn hóa: Đặt các tuyển tập vào bối cảnh lịch sử, chế độ khoa cử phong kiến và sự phát triển của công nghệ in ấn qua từng thời kỳ.

Nguồn tư liệu và cứ liệu khảo sát

Luận án trực tiếp khai thác các nguồn văn bản gốc:

  • Tư liệu chữ Hán: Hội đồ Đường thi tam bách thủ (R.3546, R.3549), Đường thi tam bách thủ chú sớ (R.3545), Đường thi cổ xuy (R.336, R.310; bản chép R.2201; AC.558), Đường thi cổ xuy tiên chú (R.1918, R.1919; AC.1533/1-2), Đường thi hợp tuyển tường giải, Thiên gia thi tập (Vhv.2164), Danh thi sao tập (A.2416), Hoa hàn tùng thoại tập thành (A.2326).
  • Tư liệu chữ Nôm: Đường thi thất tuyệt diễn ca phụ tạp văn (AB.333), Đường thi trích dịch (VNv.156), Đường thi tuyệt cú diễn ca (A.2814), Túy hậu nhàn ngâm vịnh (A.1776), Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm (AB.597).
  • Tư liệu Quốc ngữ và báo chí đầu thế kỷ XX: Tuyển dịch trên Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí; các tập tuyển dịch của Trần Trọng Kim, Đỗ Bằng Đoàn & Bùi Khánh Đản, Nam Trân, Lê Nguyễn Lưu, Trần Trọng San, Tản Đà (Nguyễn Quảng Tuân biên tuyển), Lê Đức Niệm, Ngô Văn Phú, Trần Xuân Đề, Phan Ngọc, Nhượng Tống, Lê Văn Đình & Ngô Như Sâm, Du Vân & Trần Nguyên Thạch.
  • Sử liệu và văn hiến tham chiếu: Nguyên Hòa quận huyện đồ chí (Lý Cát Phủ), Tân Đường thư (Âu Dương Tu, Tống Kỳ), Toàn Đường thi, Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), An Nam chí lược (Lê Tắc), Đại Việt thông sử và Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Châu bản triều Nguyễn (tập Tự Đức).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình truyền bá thơ Đường thời kỳ An Nam (第一章 唐诗在安南时期的传播情况)

Chương 1 khảo sát bối cảnh lịch sử hành chính và các kênh truyền bá thơ Đường vào An Nam trong thời kỳ nhà Đường:

  • Cơ cấu hành chính và hoạt động sáng tác của quan lại: Theo Nguyên Hòa quận huyện đồ chí (quyển 38) và Tân Đường thư (Địa lý chí), An Nam Đô hộ phủ quản hạt 12-13 châu chính và hàng chục châu quy phục (k羈縻 châu). Các quan chức nhà Đường được cử sang An Nam như Đô hộ Cao Biền (821–887) sáng tác các bài thơ như Phó An Nam khước ký đài tư, Nam chinh tự hoài, An Nam tống Tào biệt sắc quy triều. Hoạt động xướng họa của tầng lớp thống trị tạo tiền đề cho thơ Đường thâm nhập vào giới trí thức bản địa. Đồng thời, các sĩ tử An Nam sang kinh đô Trường An thi cử đỗ đạt như Khương Công Phụ (đỗ Tiến sĩ, làm đến Tể tướng), Liêu Hữu Phương cũng tham gia tích cực vào mạng lưới xướng họa thi ca Trung nguyên.
  • Hoạt động của các văn thần bị lưu đày (biếm trích): Đây là kênh truyền bá thơ cận thể quan trọng nhất:
    • Đỗ Thẩm Ngôn (khoảng 645–708): Bị đày đến Phong Châu năm 705 (thời Đường Trung Tông), sáng tác Độ Tương giang, Lữ ngụ An Nam, Xuân nhật hoài quy, mang phong cách ngũ luật nghiêm cẩn truyền dạy vào bản địa.
    • Thẩm Thuyên Kỳ (khoảng 656–714): Bị đày đến Hoan Châu (nay thuộc Hà Tĩnh) từ mùa xuân năm 705 đến mùa thu năm 707. Tác giả sáng tác chùm thơ ghi lại phong thổ và tâm trạng lưu đày: Sơ đạt Hoan Châu nhị thủ (nhắc đến cột đồng Mã Viện, nước Lâm Ấp, nước Đạo Minh), Dao đồng Đỗ viên ngoại Thẩm Ngôn quá Lĩnh, Độ An Hải nhập Long Biên, Cửu Chân sơn Tịnh Cư tự yết Vô Ngại thượng nhân, Hoan Châu nam đình dạ mộng, Tam nhật độc tọa Hoan Châu tư ức cựu du, Tùng Hoan Châu giải trạch di trụ sơn gian thủy đình tặng Tô sử quân, Đề gia tử thụ (miêu tả chi tiết cây dừa phương Nam, lấy ý từ Quất tụng của Khuất Nguyên).
    • Bùi Di Trực: Bị giáng làm Hoan Châu Tư hộ tham quân năm 841 (thời Đường Vũ Tông), để lại các bài thơ như Đề giang thượng liễu ký Lý sử quân, Sùng Sơn quận, Giang thượng kiến nguyệt hoài cổ, Ức gia, Thu nhật, Phát Giao Châu nhật lưu đề Giải luyện sư phòng.
  • Giao lưu Phật giáo và thương nhân: Sự qua lại giữa tăng lữ Phật giáo Giao Châu và Trung Châu cùng mạng lưới mậu dịch dân gian đóng vai trò cầu nối phụ trợ tiếp tục chuyển tải thi phẩm Đường thi sang An Nam.

Chương 2: Nghiên cứu các tuyển tập thơ Đường bằng chữ Hán tại Việt Nam (第二章 越南汉文唐诗选本研究)

Chương 2 tập trung khảo sát văn bản học và kỹ thuật thư tịch đối với các tuyển tập Hán văn:

  • Quan hệ giữa âm Hán Việt và thơ Đường: Hệ thống âm Hán Việt hình thành chủ yếu từ thời Đường (thế kỷ VIII–IX). Luận án đối chiếu 30 thanh mẫu của Sa môn Thủ Ôn và chỉ ra: gần một nửa thanh mẫu chuyển đổi tương ứng trực tiếp sang phụ âm Hán Việt (ví dụ: thanh mẫu [ts’] chuyển thành tr, s, x; phụ âm [t] đại diện cho các mẫu [b], [p’], [p], [ts], [ts’]). Về vận mẫu, âm Đường - Tống có 8 nguyên âm chính, khi chuyển sang Hán Việt có hiện tượng rụng âm vĩ (vi, tề, tế, phế...) hoặc biến âm đầu lưỡi/gốc lưỡi (canh, thanh). Về thanh điệu, tiếng Việt cổ vốn không dấu, đến thế kỷ VI hình thành 3 thanh (bình, huyền, sắc), thế kỷ XII hấp thu khứ thanh Đường - Tống phát triển thành 6 thanh điệu. Quy luật biến đổi này vẫn bảo lưu hoàn chỉnh cấu trúc bình trắc, đối ngẫu nghiêm ngặt ở liên 2 (hàm liên - câu 3, 4) và liên 3 (cảnh liên - câu 5, 6) của bài thơ bát cú, giúp người Việt đọc và cảm nhận trực tiếp nhạc tính của thơ Đường.
  • Tình trạng lưu giữ và in ấn cổ tịch tại Việt Nam:
    • Nguyên nhân thư tịch cổ thất tán: (1) Chiến tranh liên miên (quân Chiêm Thành đốt phá thời Trần Nghệ Tông; tướng nhà Minh tịch thu toàn bộ sách mang về Nam Kinh; loạn Trần Cảo thời Lê; thời Tây Sơn - Nguyễn); (2) Thiếu cơ quan chuyên trách quản lý thư tịch và tâm lý giấu sách tư nhân; (3) Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ướt làm giấy bổi/giấy dó dễ mục nát, mối mọt; (4) Chính sách cấm hủy sách của triều đình (như vụ án Cao Bá Quát); (5) Sự cướp phá và mang tài liệu về Pháp trong thời kỳ thuộc địa.
    • Lịch sử in ấn mộc bản: Du nhập từ thời Lý (Thuyền sư Tín Học mất năm 1190 xuất thân từ gia đình thợ in mộc bản). Thời Hậu Lê, Lương Nhữ Hộc hai lần đi sứ nhà Minh (1443, 1459) học kỹ thuật khắc ván tiên tiến về truyền dạy cho hai làng Hồng Lục và Liễu Tràng (Hải Dương), được tôn là tổ nghề in. Hình thành các phường in nổi tiếng: Hội Văn đường, Quảng Thạnh đường, Phúc Văn đường, Lạc Thiện đường, Đức Văn đường... Thống kê của Mai Hồng và Nguyễn Hữu Mùi xác nhận có 319 cơ sở khắc in mộc bản từ thế kỷ XVII đến XX. Bản khắc dùng gỗ thị (loại gỗ ngâm nước nhiều năm không cong vênh, chống mối mọt, tuổi thọ 300–400 năm) hoặc gỗ táo. Triều Nguyễn có sự tham gia của thợ khắc bản chuyên nghiệp tại Quốc Sử quán (dùng kiểu chữ Tống thể).
  • Khảo sát văn bản cụ thể:
    • Hội đồ Đường thi tam bách thủ (R.3546, R.3549): Chia làm 4 tập. Bản in thạch bản thời Dân quốc, kết cấu trên hình vẽ minh họa, dưới in 14 dòng/trang (23 chữ/dòng), có nét tương đồng với bản của Thiên Bảo thư cục (1915) và Quảng Ích thư cục (1919) tại Thượng Hải. Tuyển chọn 310 bài thơ theo thể loại: Ngũ cổ (33 bài, nhạc phủ 7 bài), Thất cổ (28 bài, nhạc phủ 14 bài), Ngũ luật (80 bài), Thất luật (50 bài, nhạc phủ 1 bài), Ngũ tuyệt (29 bài, nhạc phủ 8 bài), Thất tuyệt (51 bài, nhạc phủ 9 bài).
    • Đường thi tam bách thủ chú sớ (R.3545): Gồm 6 tập, do Thượng Hải Hồng Bảo Trai thư cục in thạch bản, mang lời bình chú tường tận của Chương Nhiếp (viết năm Đạo Quang thứ 14 - 1834) và bài tựa của Tiền Đường Tôn Bảo Thuần cùng Vu Khánh Nguyên (1835).
    • Đường thi cổ xuy (R.336, R.310; bản chép tay R.2201; AC.558) và Đường thi cổ xuy tiên chú (R.1918, R.1919; AC.1533/1-2): Bản in 10 quyển do Phúc Văn đường tàng bản khắc in năm Tự Đức thứ 4 (1851), mang chú giải của Hác Thiên Đĩnh, Liêu Văn Bỉnh và phần san định của Vương Sĩ Trinh (Vương Ngư Đình).
+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG HỢP CÁC TUYỂN TẬP THƠ ĐƯỜNG CHỮ HÁN TIÊU BIỂU LƯU TRỮ TẠI VIỆT NAM                |
+--------------------------+---------------------+-------------------+--------------------+
| Tên tuyển tập            | Ký hiệu lưu trữ     | Hình thái / Bản in| Đơn vị xuất bản/in |
+--------------------------+---------------------+-------------------+--------------------+
| Hội đồ Đường thi tam     | R.3546, R.3549      | In thạch bản      | Thượng Hải (bản du |
| bách thủ (4 tập)         | (Thư viện Quốc gia) | (Hình trên chữ    | nhập thời Dân quốc)|
|                          |                     | dưới)             |                    |
| Đường thi tam bách thủ   | R.3545 (6 tập)      | In thạch bản      | Hồng Bảo Trai thư  |
| chú sớ (Chương Nhiếp chú)| (Thư viện Quốc gia) | kèm lời chú       | cục (Thượng Hải)   |
| Đường thi cổ xuy         | R.336, R.310 (TVQG);| Mộc bản khắc in   | Phúc Văn đường     |
| (10 quyển)               | AC.558 (Viện HN)    | (Năm Tự Đức 4 -   | tàng bản           |
|                          |                     | 1851)             |                    |
| Đường thi cổ xuy         | R.2201              | Bản chép tay mô   | Văn nhân Việt Nam  |
| (Bản sao tập 1)          | (Thư viện Quốc gia) | phỏng bản in      | sao chép           |
| Đường thi cổ xuy tiên chú| R.1918, R.1919(TVQG)| Mộc bản khắc in   | Phúc Văn đường     |
| (Vương Ngư Đình san định)| AC.1533 (Viện HN)   | (Năm Tự Đức 4 -   | tàng bản           |
|                          |                     | 1851)             |                    |
+--------------------------+---------------------+-------------------+--------------------+

Chương 3: Nghiên cứu các tuyển tập thơ Đường bằng chữ Nôm tại Việt Nam (第三章 越南喃文唐诗选本研究)

Chương 3 đi sâu vào các tuyển tập dịch thơ Đường bằng chữ Nôm:

  • Tiến trình dịch Nôm và loại hình tuyển tập: Chữ Nôm ra đời từ thế kỷ XIII dựa trên phép cấu tạo chữ Hán. Dịch Nôm thơ Đường sớm nhất ghi nhận ở Hồng Đức quốc âm thi tập và phát triển rực rỡ qua các tập: Đường thi thất tuyệt diễn ca phụ tạp văn (ký hiệu AB.333), Đường thi trích dịch (ký hiệu VNv.156, đóng chung tập Vị Thành giai cú tập biên), Đường thi tuyệt cú diễn ca (ký hiệu A.2814, đóng chung tập Du Hương Tích động ký), Túy hậu nhàn ngâm vịnh (ký hiệu A.1776), Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm (ký hiệu AB.597).
  • Đặc trưng thi pháp và đóng góp của dịch giả Nôm: Các dịch giả tiêu biểu như Tú Xương (Trần Tế Xương), Dương Lâm, Đông Sơn cư sĩ... đã tích cực chuyển ngữ thơ Đường. Bản dịch Nôm đạt được hai thành tựu nổi bật: (1) Giữ nguyên kết cấu thể Đường luật thất ngôn bát cú hoặc tuyệt cú nhưng đưa khẩu ngữ, từ ngữ dân gian sinh động, hóm hỉnh vào bản dịch; (2) Sáng tạo chuyển dịch thơ Đường sang các thể thơ truyền thống của dân tộc, đặc biệt là thể thơ Lục bát và Song thất lục bát (diễn ca).
  • Ưu thế và hạn chế của dịch Nôm: Ưu thế là biểu đạt tinh tế tâm tư, tính cách và nhạc điệu tiếng Việt; tuy nhiên gặp khó khăn do chữ Nôm có tính đa âm, đa nghĩa, quy cách dị thể phức tạp và kỹ thuật khắc in chữ Nôm tốn kém hơn chữ Hán.

Chương 4: Nghiên cứu các tuyển tập thơ Đường bằng chữ Quốc ngữ tại Việt Nam (第四章 越南国语唐诗选本研究)

Chương 4 khảo sát các ấn bản chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ XX:

  • Bối cảnh và phong trào dịch thuật: Sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ La-tinh hóa và sự suy tàn của Hán học cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX dẫn đến phong trào dịch thơ Đường rầm rộ trên các cơ quan báo chí như Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí...
  • Khảo sát hệ thống tuyển tập tổng tập và biệt tập:
    • Tổng tập thơ Đường: Tập Đường thi do Trần Trọng Kim tuyển dịch; Đường thi trích dịch của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản; Đường thi của Nam Trân; Đường thi tuyển dịch (2 tập) của Lê Nguyễn Lưu (NXB Thuận Hóa, 1997); Đường thi của Trần Trọng San; tập thơ dịch của Tản Đà do Nguyễn Quảng Tuân biên tuyển.
    • Biệt tập chuyên đề tác gia: Lý Bạch thi tiên do Lê Đức Niệm dịch; Thơ Lý Bạch do Ngô Văn Phú tuyển dịch; Thơ Đỗ Phủ do Trần Xuân Đề dịch; chuyên luận dịch thuật Đỗ Phủ nhà thơ bình dân của Phan Ngọc; Thơ Đỗ Phủ do Nhượng Tống dịch; Thơ Bạch Cư Dị của Ngô Văn Phú; Thơ Đỗ Mục do Lê Văn Đình và Ngô Như Sâm dịch; Thơ Lý Thương Ẩn do Du Vân và Trần Nguyên Thạch dịch.
  • Đặc trưng của tuyển tập Quốc ngữ: (1) Thể thức phân loại đa dạng (theo tác gia, đề tài, thể loại, niên đại); (2) Bộc lộ sự đồng cảm tinh thần sâu sắc giữa dịch giả Việt Nam và tác giả đời Đường; (3) Kết hợp đa dạng các thể thơ dịch (bản dịch chữ Hán phiên âm, bản dịch thơ Đường luật nguyên thể, bản dịch lục bát hoặc song thất lục bát) đi kèm phần chú thích lịch sử, điển cố chi tiết.

Chương 5: Tiếp nhận thơ Đường tại Việt Nam và tác động đến các tuyển tập thơ Đường (第五章 唐诗在越南的接受及对唐诗选本的影响)

Chương 5 phân tích cơ chế nội tại thúc đẩy sự ra đời và lan tỏa của các tuyển tập:

  • Phân kỳ lịch sử tiếp nhận: Tiếp nhận thơ Đường gắn liền với lịch sử phát triển thơ ca Việt Nam qua các thời kỳ: Lý - Trần, Hậu Lê, thời Nguyễn và phong trào Thơ mới (1930–1945).
  • Ba nhân tố thúc đẩy tuyển tập thơ Đường phát triển:
    1. Thị hiếu và tình cảm của tầng lớp văn nhân: Sự say mê thẩm mỹ đối với thi pháp hàm súc, niêm luật chặt chẽ của thơ Đường khiến việc sao chép, sưu tầm trở thành nhu cầu tự thân của giới trí thức.
    2. Chế độ thi cử khoa cử: Thơ Đường luật là một trong các thể văn bắt buộc trong các kỳ thi Hương, thi Hội ("thí thi" - 试诗). Sĩ tử bắt buộc phải học thuộc quy phạm niêm luật, đối ngẫu, dùng điển cố từ các tuyển tập chuẩn mực để ứng thí.
    3. Thực tiễn xướng họa của đế vương và triều thần: Các vị vua sáng lập học hội như Lê Thánh Tông (Hội Tao Đàn), vua Tự Đức triều Nguyễn cùng các văn thần liên tục sáng tác thể thơ mô phỏng Đường luật, thúc đẩy việc khắc in và phổ biến các sách mẫu mực như Đường thi cổ xuy.

Chương 6: Tác động của các tuyển tập và bản dịch thơ Đường tại Việt Nam (第六章 唐诗选本与译本在越南的影响)

Chương 6 đánh giá tác động nhiều chiều của tuyển tập và bản dịch:

  • Tác động đến sáng tác văn học:
    • Văn học chữ Hán: Định hình quy phạm thi luật cho thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát...
    • Văn học chữ Nôm: Thúc đẩy sự định hình thể thơ Nôm Đường luật (phá cách câu lục ngôn chen thất ngôn, đưa ngôn ngữ bản địa vào quy chuẩn luật Đường) của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.
    • Thơ mới chữ Quốc ngữ (1930–1945): Dù Thơ mới tiếp thu thơ lãng mạn phương Tây nhưng vẫn kế thừa sâu sắc ngữ cảm, thi liệu, thi cảnh và cấu trúc ước lệ của thơ Đường (chứng minh qua các nghiên cứu của Lê Thị Anh, Đào Đồng Điện).
  • Tác động đến giáo dục học đường: Các thi phẩm Đường thi xuất sắc trong tuyển tập chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học tại Việt Nam, trở thành văn bản giảng dạy chuẩn mực về thể loại và thẩm mỹ.
  • Tác động đến nghiên cứu học thuật và biên soạn sách công cụ: Thúc đẩy hàng loạt chuyên khảo phê bình thi pháp, bài viết bình điểm trên báo chí và các sách công cụ tra cứu, chú giải điển cố thơ Đường xuất hiện liên tục tại Việt Nam trong thế kỷ XX.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt văn hiến học: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tiến hành tổng điều tra, giám định thư mục và phân loại có hệ thống các tuyển tập, bản dịch thơ Đường bằng ba thứ chữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ) hiện còn lưu giữ tại các thư viện lớn của Việt Nam.
  2. Về phương diện lịch sử - văn bản: Xác lập niên đại, xuất xứ bản in của các ấn bản quý hiếm như Hội đồ Đường thi tam bách thủ (R.3546), Đường thi tam bách thủ chú sớ (R.3545, bản Thượng Hải Hồng Bảo Trai), các bản khắc gỗ Đường thi cổ xuy của phường in Phúc Văn đường năm Tự Đức thứ 4 (1851); đồng thời làm sáng tỏ vai trò của các làng nghề khắc in truyền thống như Hồng Lục, Liễu Tràng trong việc truyền bá thư tịch Hán Nôm.
  3. Về phương diện âm luật học và tiếp nhận thi pháp: Luận giải thấu đáo mối quan hệ ngữ âm lịch sử giữa hệ thống 30 thanh mẫu thời Đường - Tống với âm Hán Việt trung cổ; chứng minh âm Hán Việt là phương tiện bảo lưu hoàn hảo niêm luật, thanh điệu bình trắc và phép đối ngẫu của thơ Đường khi ngâm vịnh.
  4. Về phương diện so sánh thể loại: Làm rõ quá trình chuyển đổi thể loại sáng tạo của người Việt: từ việc sao phỏng thi luật chữ Hán sang sáng tạo thể thơ Nôm Đường luật và chuyển thể diễn ca sang thể thơ dân tộc Lục bát và Song thất lục bát.
  5. Kiến nghị khoa học: Đề xuất tăng cường công tác số hóa, phục chế các bản mộc bản và bản chép tay thơ Đường đang bị hư hại tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia; đẩy mạnh việc biên soạn thư mục liên hợp cổ tịch Hán Nôm giữa Việt Nam và các nước trong khu vực đồng văn Đông Á.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, sự tàn phá của các cuộc chiến tranh trong lịch sử và sự thất tán tài liệu trong thời kỳ thuộc địa, số lượng bản in mộc bản và bản chép tay cổ về thơ Đường thời Lý, Trần, Lê sơ lưu trữ trong nước còn lại rất ít. Một số bản in thạch bản thời Dân quốc không ghi rõ niên đại chính xác, gây khó khăn cho việc xác định tuyệt đối thời điểm du nhập vào Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát nguồn tư liệu Hán Nôm lưu trữ tại nước ngoài, đặc biệt là kho tư liệu của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) tại Paris (Pháp); đi sâu phân tích đối sánh văn bản học giữa các bản dịch Nôm cổ với các dị bản thơ Đường thời Minh - Thanh.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Hán Nôm, Văn học cổ điển và Văn học so sánh: Cung cấp hệ thống dữ liệu thư mục chuẩn xác, phương pháp giám định bản khắc mộc bản/thạch bản và khung lý thuyết tiếp nhận văn học Đông Á.
  • Đối với giới nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử: Cung cấp cứ liệu thực chứng về sự tương ứng giữa ngữ âm tiếng Hán trung cổ và âm Hán Việt qua thi luật thơ Đường.
  • Đối với các cơ quan quản lý thư viện và bảo tồn di sản: Cung cấp thông tin thư mục chi tiết về tình trạng tàng trữ, mã số lưu trữ của các cổ bản quý hiếm phục vụ công tác số hóa và bảo quản di sản văn hiến Hán Nôm.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao số lượng thư tịch cổ chữ Hán về thơ Đường hiện còn lưu giữ tại các thư viện Việt Nam lại rất ít?

Luận án chỉ ra 5 nguyên nhân chính: (1) Chiến tranh và loạn lạc tàn phá thư tịch liên tục qua các triều đại (quân Chiêm Thành đốt phá thời Trần Nghệ Tông, tướng nhà Minh tịch thu sách mang về Nam Kinh, loạn Trần Cảo thời Lê, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn); (2) Thiếu cơ quan chuyên trách quản lý thư viện thời phong kiến và tập quán giấu sách của tư nhân; (3) Khí hậu nhiệt đới ẩm ướt làm giấy bổi, giấy dó nhanh mục ải, mối mọt; (4) Chính sách cấm hủy sách ngặt nghèo của triều đình phong kiến đối với các thế lực chống đối; (5) Sự xâm lăng của thực dân Pháp và việc di chuyển nhiều cổ tịch quý sang Pháp.

2. Âm Hán Việt đóng vai trò như thế nào trong việc tiếp nhận và ngâm vịnh thơ Đường tại Việt Nam?

Hệ thống âm Hán Việt hình thành chủ yếu vào thời Đường (thế kỷ VIII–IX) trên cơ sở tiếp thu ngữ âm Trường An. Mặc dù có một số thay đổi về phụ âm đầu và vận vĩ theo quy luật ngữ âm tiếng Việt, âm Hán Việt vẫn bảo lưu hoàn chỉnh cấu trúc thanh điệu (phân chia bằng - trắc) và quy tắc đối ngẫu nghiêm ngặt giữa các liên (hàm liên - câu 3, 4; cảnh liên - câu 5, 6). Nhờ đó, người Việt khi đọc thơ Đường bằng âm Hán Việt vẫn giữ nguyên được tiết tấu, nhạc tính và niêm luật chặt chẽ của nguyên tác.

3. Lịch sử nghề in mộc bản Việt Nam gắn liền với sự truyền bá thơ Đường ra sao?

Nghề in mộc bản xuất hiện từ thời Lý qua việc in kinh Phật (Thuyền sư Tín Học mất năm 1190 xuất thân từ gia đình thợ in). Đến thế kỷ XV, Lương Nhữ Hộc hai lần đi sứ nhà Minh (1443, 1459) học kỹ thuật khắc ván mang về truyền cho hai làng Hồng Lục và Liễu Tràng (Hải Dương). Kỹ thuật này phát triển mạnh dưới thời Nguyễn với các phường in như Phúc Văn đường, sử dụng gỗ thị và gỗ táo để khắc in các tuyển tập thơ Đường kinh điển như Đường thi cổ xuy (năm Tự Đức thứ 4 - 1851).

4. Bản in "Đường thi tam bách thủ" và "Đường thi tam bách thủ chú sớ" tàng trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có đặc điểm gì?

Bản Hội đồ Đường thi tam bách thủ (R.3546) gồm 4 tập, in theo kỹ thuật thạch bản thời Dân quốc với định dạng "trên vẽ hình minh họa, dưới in 14 dòng chữ", tương tự bản in của Thiên Bảo thư cục và Quảng Ích thư cục (Thượng Hải). Bản Đường thi tam bách thủ chú sớ (R.3545) gồm 6 tập do Thượng Hải Hồng Bảo Trai thư cục ấn hành thạch bản, mang phần chú giải chi tiết của Chương Nhiếp (năm 1834) và bài tựa của Tôn Bảo Thuần, Vu Khánh Nguyên (1835).

5. Việc dịch thơ Đường sang chữ Nôm tại Việt Nam có những sáng tạo thể loại nổi bật nào?

Bên cạnh việc giữ nguyên kết cấu thể Đường luật thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt và đưa khẩu ngữ dân gian vào bản dịch (tiêu biểu như Tú Xương, Dương Lâm, Đông Sơn cư sĩ), các dịch giả chữ Nôm Việt Nam đã có đóng góp sáng tạo đặc biệt khi chuyển dịch toàn bộ bài thơ Đường sang các thể thơ thuần túy dân tộc là thể Lục bát và Song thất lục bát (thể diễn ca), tạo nên phương thức tiếp nhận bản địa hóa độc đáo.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Lĩnh là công trình nghiên cứu văn bản học và tiếp nhận văn học có hệ thống về các tuyển tập thơ Đường tại Việt Nam qua ba hệ thống văn tự Hán, Nôm và Quốc ngữ. Bằng phương pháp nghiên cứu văn hiến kết hợp phân tích ngữ âm lịch sử và thi pháp học, tác giả đã phục dựng diện mạo lưu truyền, khảo sát các ấn bản mộc bản, thạch bản quý hiếm và lý giải nguyên nhân thơ Đường bám rễ sâu bền trong đời sống văn hóa Việt Nam. Công trình khẳng định các tuyển tập thơ Đường không chỉ là công cụ học tập thi luật, phục vụ thi cử khoa cử mà còn là nhân tố then chốt thúc đẩy sự ra đời của thể thơ Nôm Đường luật, thơ lục bát diễn ca và ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào Thơ mới cùng nền giáo dục học đường Việt Nam hiện đại.