CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Mảng bám vi sinh 1. Mảng bám vi sinh và vi sinh vật sinh mảng bám Mảng bám (slime) là tên gọi chung của chất cặn có nguồn gốc vi sinh vật trong nhà máy giấy.
Vi khuẩn bám vào bề mặt và bắt đầu hình thành màng sinh học (biofilm). Bề mặt mà vi khuẩn bám vào để tạo thành màng sinh học rất quan trọng và phụ thuộc vào tính ưa nước và kỵ nước của bề mặt. Ví dụ: khả năng bám dính của polyme Glycocalyx trước hết liên quan đến việc gắn glycoprotein với bề mặt tiếp xúc, sau khi gắn kết, tập hợp của vi khuẩn được hình thành và cuối cùng là sự hình thành màng sinh học bằng cách tiết ra EPS. EPS thường bao gồm các polysaccharit, cũng có thể chứa protein, axit nucleic và các hợp chất béo (lipophilic polyme) [61].
EPS được coi là thành phần cấu trúc chính của màng sinh học hỗ trợ tương tác bề mặt của các vi khuẩn với nhau [28, 56]. Màng sinh học hoạt động như một lớp bảo vệ chống lại các tác nhân gây hại cũng như là nguồn dự trữ carbon và năng lượng cho vi sinh vật trong các thời điểm thiếu hụt chất dinh dưỡng. Màng sinh học có khả năng chống lại tia UV và tăng tỷ lệ trao đổi gen giữa các vi sinh vật. Các chất cặn hữu cơ của màng sinh học đóng vai trò là môi trường sống cho vi sinh vật và giúp liên kết các màng sinh học lại với nhau để chúng tồn tại lâu dài.
Lớp màng hữu cơ còn bảo vệ tế bào vi sinh vật khỏi những thay đổi lý hóa trong hệ thống [61]. Trong tự nhiên, khoảng 99% vi sinh vật tồn tại ở dạng màng sinh học (biofilm) và chỉ có 1% tồn tại ở dạng tế bào tự do. Màng sinh học (biofilm) được định nghĩa là tập hợp quần xã vi sinh vật bám trên một bề mặt của vật thể rắn hoặc bề mặt chất lỏng, sau khi gắn trên 1 bề mặt, chúng sẽ bắt đầu sản xuất lớp polyme ngoại bào (EPS - extracellular polymeric substance) bao phủ bề mặt đó. Các EPS này được cấu thành bởi các polyme có tính kết dính cao (như: alginate, pel, psl.), sẽ kéo theo việc bám dính của nhiều chất hữu cơ, dầu mỡ hay các chất rắn lơ lửng trong các đường ống thoát nước sinh hoạt.
Đây là nguyên chính gây ra mùi hôi và gây tắc các đường ống thoát nước [2]. 3 Màng sinh học (biofilm) là một cấu trúc phức tạp, được tạo ra bởi các vi sinh vật sinh trưởng và bám dính trên bề mặt vật liệu, chúng có thể được tạo ra từ các nhóm vi sinh vật khác nhau bao gồm vi khuẩn, nấm mốc, nấm men… nhưng phổ biến nhất vẫn là vi khuẩn. Các nghiên cứu đã xác định hầu hết các loài vi khuẩn đều có khả năng tạo màng sinh học. Vi khuẩn có thể hình thành màng sinh học trên các loại bề mặt môi trường rắn, lỏng hoặc trên bề mặt môi trường bán lỏng [1] Thành phần sinh học của mảng bám nhà máy giấy đều là các vi sinh vật đơn bào.
Vi khuẩn, nấm men và nấm thường được tìm thấy nhiều nhất trong mảng bám (Hình 1. Các vi sinh vật hình thành mảng bám trong môi trường nhà máy [61] Vi khuẩn thường thấy nhất trong mảng bám là Aerobacter aerogenes hình que không sinh bào tử, có khả năng thích nghi tùy theo lượng oxy sẵn có trong môi trường xung quanh. Chúng kết hợp với sợi giấy tạo thành mảng bám mềm và sền sệt. Vi khuẩn này có khả năng di động và di chuyển ở một mức độ nhất định để chọn những vị trí thuận lợi nhất trong máy giấy để xâm chiếm.
Escherichia coli, Pseudomonas, Arthrobacter, Proteus, v. là những loài vi khuẩn khác chịu trách nhiệm trong việc hình thành mảng bám. Những loài này chịu trách nhiệm cho sự phát triển về độ dày 4 và cuối cùng tách mảng bám ra khỏi bề mặt vật liệu. Pseudomonas chủ yếu được tìm thấy trong các nhà máy sử dụng nước xử lý không tái chế.
Mảng bám có thể cung cấp vùng kỵ khí cho sự phát triển của vi khuẩn khử sunfat. Ví dụ, Desulphovibrio desulphuricans khử sunfat thành hydro sunfua và cũng khử sunfit, thiosulphat và hyposulphit. Đây là một trong nhiều loại vi khuẩn thúc đẩy sự ăn mòn và đổi màu bề mặt sơn, bột giấy và các thiết bị khác nhau [61]. Nấm mốc hoặc nấm sợi: Mảng bám được hình thành rất khác nhau với nhóm nấm, từ sự phát triển dạng keo nặng đến mảng bám dạng da hoặc mờ.
Nấm mốc có khả năng sử dụng nhiều loại cơ chất như cellulose, tinh bột hoặc đường. Một số loài nấm mốc hình thành khuẩn lạc kết hợp với các loài vi khuẩn như: Cladosporium, Geotrichum, Mucor và các loài nấm khác. Các chi nấm Aspergillus, Penicillium và Cephalosporium chịu trách nhiệm trong việc hình thành mảng bám [61]. Nấm chịu nhiệt thường hiện diện trong hệ thống nước với quy trình khép kín trong nhà máy giấy có nhiệt độ dao động trên 30°C [26].
Những loại nấm này tạo ra EPS hình thành mảng bám từ vật liệu dự trữ và các sản phẩm bài tiết của chúng. Cấu trúc giống như xơ sợi do nấm Basidiomycetes và các loài Penicillium tạo ra giúp tích tụ mảng bám dẫn đến tạo ra các mảng màu trong bột giấy, làm hỏng bột giấy ướt xếp chồng lên nhau và các sản phẩm giấy thành phẩm [61]. Nguyên nhân và cơ chế hình thành mảng bám Sự hình thành mảng bám là một quá trình rất phức tạp do có nhiều yếu tố liên quan đến quá trình phát triển của chúng. Sự hình thành mảng bám xảy ra một cách tự nhiên do sự phát triển của các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm và nấm men khi có chất dinh dưỡng, độ ẩm và nhiệt độ thích hợp.
Các nhà máy giấy sử dụng sợi tái chế thường sử dụng quy trình khép kín có điều kiện tối ưu cho sự phát triển của vi sinh vật do hàm lượng chất dinh dưỡng cao, nhiệt độ và độ pH tối ưu [61]. Nước trắng trong nhà máy giấy cũng chứa nhiều chất dinh dưỡng, tạo môi trường thích hợp cho vi sinh vật phát triển, đặc biệt là nước có nhiệt độ dao động trong khoảng 30°C. Trong nhà máy giấy, loại và tính chất của mảng bám tạo ra sẽ thay đổi tùy theo từng khu vực [11]. 5 Khi nồng độ oxy hòa tan tăng sẽ thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn hiếu khí chính là tác nhân hình thành mảng bám, còn khi nồng độ oxy hòa tan giảm thì vi khuẩn kỵ khí tăng trưởng.
Nhiệt độ tăng giúp cho sự tăng trưởng và phát triển của vi khuẩn ưa nhiệt đến vi khuẩn chịu nhiệt. Tái sử dụng nước trắng làm tăng vi sinh vật dạng sợi trong hệ thống nước. Ô nhiễm vi khuẩn và nấm thường xảy ra trong trường hợp sử dụng bột giấy tái chế. Mật độ vi sinh vật trong bột giấy tái chế cao hơn nhiều lần so với bột giấy nguyên chất [11].
Đôi khi, bột giấy là nguồn gây ô nhiễm chính cho nhà máy. Các khúc gỗ gần đáy đống thường bị bao phủ bởi mảng bám của vi khuẩn và nấm mốc phát triển. Đống càng thấp thì số lượng vi khuẩn càng cao. Vi khuẩn hình thành bào tử, các bào tử của Bacillus subtilis thường xuyên chịu được nhiệt độ cao, còn các vi khuẩn không tạo bào tử thường bị tiêu diệt.
Nhiễm vi khuẩn Aerobacter aerogenes do bột giấy bị tái chế nhiều lần. Nhiệt độ nghiền không thể loại bỏ được các mảng bám đã tồn tại và chúng được đưa vào hệ thống nghiền gỗ và nhà máy giấy [61]. Sự hình thành mảng bám thường được thiết lập thông qua một số bước và theo tiến trình phân lớp. Đầu tiên, các tế bào sinh vật phù du bám vào bề mặt, thông qua lực tương tác tĩnh điện, liên kết hydro và lực phân tán London [46].
Những vi khuẩn xâm chiếm ban đầu, thường là vi khuẩn đặc hiệu, có khả năng bám dính nhờ khả năng tạo ra các polyme ngoại bào, bao gồm chủ yếu là các polysaccharide không ion và anion [88]. Sự bám dính của vi khuẩn là một quá trình phức tạp bị ảnh hưởng bởi (i) một số đặc điểm của bề mặt (kết cấu, độ nhám, tính kỵ nước, hóa học bề mặt và điện tích); (ii) điều kiện môi trường (nhiệt độ, pH, thời gian tiếp xúc, nồng độ vi khuẩn, xử lý hóa học hoặc sự hiện diện của thuốc kháng khuẩn và điều kiện dịch); và (iii) các đặc tính hóa lý nội tại của vi khuẩn (tính kỵ nước, điện tích bề mặt, sản xuất polysaccharit và khả năng vận động của tế bào) [73, 74]. Một khi bề mặt tiếp xúc được vi sinh vật xâm chiếm, các tế bào sẽ phát triển và tạo ra EPS, các vi khuẩn sẽ phát triển và sự kết dính và đông tụ của các tế bào vi khuẩn khác nhau sẽ góp phần phát triển màng sinh học đa loài [24]. Các đặc tính bề mặt tế bào, cụ thể là sự hiện diện của các phần phụ ngoại bào, các tương tác liên quan đến giao tiếp giữa tế bào và 6 sản xuất EPS rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển màng sinh học.
EPS chịu trách nhiệm kết dính các bề mặt, tạo mạng lưới cho các tế bào kết dính lại với nhau, duy trì cấu trúc ba chiều của màng sinh học và bảo vệ tế bào chống lại các điều kiện bất lợi. Các thành phần của nó bao gồm các polysaccharit, axit nucleic, protein, lipid và các polyme sinh học khác. Sau khi trưởng thành, tế bào rời khỏi màng sinh học ở giai đoạn phân tán [38]. Quá trình này được minh họa trong Hình 1.
Minh họa quá trình hình thành màng sinh học và hình ảnh kính hiển vi điện tử quét tiêu biểu cho từng bước [67]. Ảnh hưởng của mảng bám vi sinh đến sản xuất giấy Sự hình thành mảng bám trong hệ thống dây chuyền sản xuất khép kín của nhà máy giấy đã gây nên những vấn đề nghiêm trọng. Các loại tổn thất khác nhau trong các quy trình hoặc sản phẩm của nhà máy giấy do mảng bám được tóm tắt trong Hình 1. Màng sinh học có thể xuất hiện ở các bề mặt tiếp xúc khác nhau như rắn-lỏng, rắn- khí, lỏng-lỏng và lỏng- khí.
Sự hình thành màng sinh học trong thiết bị thường xuyên dẫn đến lỗi giấy hoặc gây đứt giấy [61]. Các loại tổn thất khác nhau trong quy trình hoặc sản phẩm của nhà máy giấy do mảng bám [61] Các chất chuyển hóa được giải phóng bởi quá trình trao đổi chất của vi khuẩn trong màng sinh học là các axit hữu cơ và vô cơ [11]. Do đó, màng sinh học tạo ra nồng độ oxy khác nhau ở các vùng khác nhau, gây ra các mảng trên giấy do tính ăn mòn của nó.