CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu về cây đậu tương 1. Nguồn gốc và phân loại cây đậu tương Đậu tương là cây họ đậu, có nguồn gốc từ Trung Quốc, được con người biết đến cách đây khoảng 5000 năm (Hymowitz, 2014). Khoảng 200 năm trước Công nguyên, đậu tương được đưa tới Triều Tiên, sau đó là Nhật Bản.
Đến giữa thế kỷ 17, đậu tương mới trồng tại châu Âu, sau đó phát triển mạnh tại Hoa Kỳ, Braxin, Canada (Pratap et al. Đậu tương trồng có tên khoa học là Glycine max (L.) Merrill, thuộc bộ Fabales, họ Fabaceae, họ phụ Papiomoideae, chi Glycine, chi phụ Soja (Hermann, 1962). Phân loại thực vật cho các loài đậu tương trồng và hoang dại như sau: Bộ: Fabales Họ: Fabaceae (Leguminosae) Họ phụ: Papilionoideae Tông: Phaseoleae Tông phụ: Glycininae Chi: Glycine Willd. Chi phụ: Soja (Moench) F.
Loài: Glycine soja Sieb. Loài: Glycine max (L. Dựa trên cơ sở khác nhau, chi Glycine đã được phân loại nhiều lần. Hermann (1962) đã chia chi Glycine thành ba chi phụ: i) Chi phụ Leptocyamus bao gồm 6 loài lưu niên hoang dại có nguồn gốc từ Úc, Nam Trung Quốc, các đảo Nam Thái Bình Dương, Philippin và Formosa (Đài Loan); ii) Chi phụ Glycine có 2 loài (G.
petitiana từ Ethiopia và G. javanica từ Ấn Độ, Malaysia); iii) Chi phụ Soja bao gồm đậu tương 9 trồng [G. ussuriensis Regel và Maack. Sau đó, Verdcourt (1966) đã thay đổi tên của chi Glycine L.
thành Glycine Willd và tên chi phụ Leptocyamus (Benth.) Hermann đổi thành chi phụ Glycine Do xuất phát từ những yêu cầu, căn cứ và tiêu chí phân loại khác nhau nên cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Nhưng đến nay, hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc thể được nhiều người sử dụng. Theo hệ thống này, ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja. Đến nay, chi Glycine gồm 26 loài hoang dại lâu năm là các loài bản địa của Úc, khu vực xung quanh các đảo Thái Bình Dương; còn chi phụ Soja gồm đậu tương trồng Glycine max (L.
và tổ tiên hoang dại hàng năm G. Giá trị của cây đậu tương Đậu tương là một trong những loại cây trồng quan trọng có giá trị kinh tế cao, có giá trị sử dụng toàn diện, cung cấp thức ăn cho người, là nguồn nguyên liệu cho chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm, dược liệu, mỹ phẩm. Đậu tương là một trong 8 cây lấy dầu quan trọng nhất trên thế giới gồm đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ (Ngô Thế Dân và ctv. Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hydrat các bon từ 15 - 16% và chứa nhiều vitamin và khoáng chất quan trọng cho sức khỏe con người.
Trong 100 g hạt đậu tương chứa 277 mg canxi, 15,7 mg sắt, 280 mg magiê, 2,5 mg mangan, 704 mg phốt pho, 1797 mg kali và 4,9 mg kẽm. Hàm lượng vitamin trong hạt đậu tương cũng khá cao và phong phú, trong 100 g hạt có: 0,9 mg vitamin B1, 0,9 mg vitamin B2, 1,6 mg vitamin B3, 0,79 mg vitamin B5, 0,4 mg vitamin B6, 0,4 mg axit folic (vitamin B9), 115,9 mg choline; 6,0 mg vitamin C, 0,9 mg vitamin E và 47 μg vitamin K (USDA, 2019). Đậu tương được dùng làm nguyên liệu để chế biến thành 600 loại sản phẩm khác nhau: đậu phụ, sữa đậu nành, dầu đậu nành, bánh kẹo, nước giải khát, nước chấm. Trong công nghiệp, dầu đậu tương được sử dụng làm si, sơn, mực in, xà 10 phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo.
(Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv. Đậu tương còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm dược, ngành công nghiệp ép dầu. Đậu tương còn có ý nghĩa trong lĩnh vực y học. Là cây thực phẩm có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ đậu tương làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Hạt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột. Protein đậu tương dễ tiêu hóa hơn protein thịt và không có các dạng axit uric nên tốt trong việc chữa bệnh suy dinh dưỡng trẻ em và người già. Ngoài ra, chất lixithin trong đậu tương có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, tăng trí nhớ, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể. Ngoài ra, do đóng góp cho việc giảm bớt một số bệnh mãn tính, đậu tương là một nguồn thiết yếu của protein, dầu và khoáng chất cho người và động vật (Kahraman, 2017).
Đậu tương có tác dụng cải tạo đất tốt nên là cây trồng thích hợp cho luân canh, xen canh với nhiều loại cây trồng khác (Trần Văn Điền, 2007). Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương a) Yêu cầu về ánh sáng Ánh sáng ảnh hưởng đến sản lượng chất khô cũng như năng suất hạt vì nó quyết định quang hợp và quá trình cố định đạm của cây. Đậu tương là cây rất nhạy cảm với cường độ chiếu sáng, cường độ chiếu sáng thích hợp nhất là 150. Đậu tương là cây ngày ngắn, có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày.
Các giống khác nhau có phản ứng với độ dài ngày khác nhau, mỗi giống có yêu cầu độ dài ngày nhất định để ra hoa kết quả. Cây đậu tương mẫn cảm nhất với ánh sáng ngày ngắn ở thời kỳ cây con 1 - 2 lá thật, giảm dần ở giai đoạn nụ và ngừng ở giai đoạn ra hoa. Từ ra hoa đến chín có xu hướng giống nhau giữa các nhóm giống đậu tương khác nhau. Các giống đậu tương Việt Nam được chia làm 3 nhóm: Nhóm chín sớm, chín trung bình và chín muộn, nhưng các giống được trồng nhiều chủ yếu thuộc 11 nhóm chín sớm.
Nhóm chín sớm ít phản ứng với độ dài ngày nên ra hoa và chín gần như ở cả 3 vụ trồng: Xuân, Hè và Đông. Sự chênh lệch về thời gian ra hoa và chín của các giống chín muộn rất rõ rệt giữa các vùng trồng do nó phản ứng khá chặt chẽ với độ dài chiếu sáng (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv. Do đó, Vụ Đông nên tuyển chọn các giống có thời gian sinh trưởng ngắn hoặc trung bình, sinh trưởng khỏe, có khả năng quang hợp và đồng hóa các chất dinh dưỡng tốt trong điều kiện ánh sáng yếu để đưa vào các vùng trồng cho thích hợp. b) Yêu cầu về nhiệt độ Cây đậu tương tuy có nguồn gốc ôn đới, nhưng không phải là cây trồng chịu rét mà cần nhiệt độ ôn hòa để sinh trưởng và phát triển.
Với cây đậu tương, yêu cầu về nhiệt độ và ẩm độ luôn phải đi đôi với nhau. Ứng với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển, cây đậu tương có khả năng chịu được các nhiệt độ khác nhau. Cây đậu tương có thể chịu được nhiệt độ thấp ở thời kỳ đầu sinh trưởng (khi có 2 lá sò) và thời kỳ quả đã chín (chuyển từ xanh đến vàng) mà không tổn hại đến sinh trưởng và năng suất. Ở thời kỳ cây con, nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến nhóm đậu tương chín sớm và ít mẫn cảm với quang chu kỳ, nhưng ít ảnh hưởng đến nhóm chín muộn.
Nhiệt độ cao quá (trên 400C) phá huỷ cấu trúc bộ máy quang hợp, làm mất hoạt tính enzim nên làm cho quang hợp giảm mạnh, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa dinh dưỡng và nước từ rễ lên thân cây và làm cho cây đậu tương dễ bị sâu bệnh hại tấn công. Ở những vùng có nhiệt độ cao, thường chọn các giống lá nhiều lông, lá nhỏ để hạn chế sự thoát hơi nước qua lá, đồng thời góc độ lá với thân chéo để ánh sáng có thể chiếu được, nhằm tăng khả năng quang hợp. Nhiệt độ thấp ảnh hưởng không tốt quá trình ra hoa, kết quả. Nhiệt độ thấp hơn 10 0C ngăn cản sự phân hóa mầm hoa, thấp hơn 18 0C có khả năng làm cho quả không đậu.
Ở những vùng có nhiệt độ thấp, những giống đậu tương thích hợp là những giống có kích thước lá dày, to để quang hợp tốt hơn và tạo điều kiện cho dòng vận chuyển nước và dinh dưỡng từ rễ lên thân cây được thuận lợi. 12 Chiều cao của cây đậu tương tăng trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 17 - 230C, nhưng sự phát triển của rễ thuận lợi ở nhiệt độ 27,2 - 32,20C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây đậu tương sinh trưởng phát triển là 22 - 270C (Whigham and Sham, 1983). Ở điều kiện vụ Đông của Hà Nội, thời kỳ đầu khi mới gieo, nhiệt độ vẫn còn khá cao nên đất có thể nóng làm hạt dễ bị thối hoặc khô quắt lại khó nảy mầm, do vậy, thời vụ là yếu tố quan trọng.
Đến thời kỳ quả xanh thì nhiệt độ thường thấp, ánh sáng yếu nên cần phải bố trí mật độ thích hợp để tạo độ thông thoáng cho cây phát triển và tích lũy dinh dưỡng vào hạt. c) Yêu cầu về nước và độ ẩm đất Ở giai đoạn nảy mầm, đất đủ ẩm thì hạt mới có thể mọc nhanh được. Tuy nhiên, nếu đất ướt quá thì sẽ bị thiếu không khí, hạt không mọc được và sẽ bị thối (Phạm Văn Thiều, 2002). Nếu khô hạn kéo dài thì hạt không nảy mầm được dẫn đến bị thối, gây khuyết mật độ và dẫn đến năng suất giảm.
Trong thời kì nảy mầm, hạt đậu tương cần hút một lượng nước bằng 100 - 150% khối lượng của nó. Độ ẩm đất thích hợp cho thời kỳ nảy mầm là 75 - 85%. Ẩm độ đất thích hợp cho thời kỳ ra hoa và bắt đầu hình thành quả là 70 - 80% (Lê Song Dự và ctv. Đậu tương là cây chịu hạn kém nên cần được tưới nước thường xuyên, đặc biệt là trong quá trình bắt đầu hình thành năng suất (Bauer et al.
Đậu tương mẫn cảm với sự thiếu nước nhất vào thời kỳ bắt đầu ra hoa - R1 đến thời kỳ bắt đầu làm hạt - R5 (Fouroud et al. Đậu tương cũng được xếp vào nhóm cây trồng mẫn cảm với úng. Khi bị ngập nước, các mao quản đất được lấp đầy nước, không khí bị đuổi ra khỏi các mao quản và do đó đất hoàn toàn thiếu ô xy. Vì vậy, rễ cây hô hấp yếm khí, không đủ năng lượng cho việc hút nước, gây ra hạn sinh lý cho cây.
Tùy theo mức độ ngập úng và giai đoạn sinh trưởng khác nhau mà tác hại của úng với cây trồng khác nhau (Hoàng Minh Tấn và ctv. 13 Trong vụ Đông ở Hà Nội, mưa gây ngập ở giai đoạn đầu của thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương. Thừa nước ở các giai đoạn này, đặc biệt là giai đoạn cây con gây tổn thương bộ rễ, cây có thể chết.