Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Khái quát về cây Tre Mai Tên khoa học: Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Phân họ Tre (Bambusoideae).
Cây Tre Mai có tên khoa học Dendrocalamus yunnanicus Hsueh & D.Li và tên thường gọi là cây Mai thuộc phân họ tre trúc (Bambusoideae), được gây trồng khá rộng rãi ở miền Bắc. Vì vậy cây Mai có nhiều tên gọi khác Mai ống, Mạy ngừu, Mai Định Hoá, Cây mai, Mai, Mạy puốc, Mạy mươi (Thái, Tày, Nùng), Lủng chủ (H'mông). Loài này được phát hiện và công bố ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) năm 1988 bởi 2 tác giả Hsueh và D. Li ở độ cao 1500 m so với mực nước biển.
Có phân bố ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam thuộc phía Nam và Tây Nam của Trung Quốc. Đây là một loài Tre đa tác dụng, khả năng phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ CO2 và có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là măng làm thực phẩm như một loại rau sạch. Đặc điểm phân bố Ở Việt Nam phân bố ở các tỉnh miền Bắc như Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Kạn và Thái Nguyên, Hòa Bình phân bố ở độ cao từ vài chục mét đến khoảng 200 m so với mực nước biển (Phạm Thành Trang & Trần Đình Hợi, 2009)[33]. Cây Mai có khả năng phát triển rộng ở các tỉnh trung du và miền núi với các loại đất đồi thấp, ven khe suối, thung lũng, đất có độ dốc, đất thịt pha cát, tầng dày trên 80 cm, đất ẩm và hơi chua.
Như vậy, đây là loài Tre có biên độ sinh thái rộng. Đặc điểm hình thái Là loài tre to, thân ngầm dạng củ, thân tre mọc khóm thưa, ngọn rủ, cao 15- 25cm, đường kính phổ biến 12-15cm, cá biệt có cây 18-22cm. Lóng có đốt không nổi, chiều dài lóng 30-45cm, bề dày vách thân 1-3cm, lúc non bề mặt có phủ lớp sáp trắng; thường phân cành cao ở 1/3-1/2 thân, mỗi đốt chia nhiều cành, thường có 01 e 5 cành chính. Cành nhỏ mang 5-15 lá thông thường mang 7 - 10 lá, bẹ lá không lông, không có tai lá, lưỡi lá nổi lên, cao 1-3mm, mép xẻ răng không đều; phiến lá hình lưỡi mác dài, biến đổi nhiều, lá dài nhất có thể tới 45cm, rộng 10cm, đầu có mũi nhọn, gốc hìnhnêm, lúc non mặt dưới có lông nhỏ, gân cấp hai 8-18 đôi, gân ngang nhỏ, rõ, mép lá có răng cưa nhỏ, rất ráp; cuống lá dài 5-10mm.
Cụm hoa trên các cành không lá, dạng chùy; mỗi đốt có 4-12(25) bông nhỏ mọc cụm, chiều dài lóng cụm hoa cấp cuối 1,2 -1,5cm; phía dưới đốt phủ phấn trắng, phần còn lại có lông mềm màu rỉ sắt; bông nhỏ dài 1- 1,5cm, rộng 3-4mm, lúc khô màu tím, đầu có mũi nhọn, gốc mang 1-2 lá bắc, bông nhỏ chứa 5-8 hoa, hoa trên cùng bất thụ, sau khi chín giữa các hoa không cách rời nhau; lá bắc 2, dài 3-4mm; mày ngoài hình trứng rộng, dài khoảng 1cm, rộng lớn hơn chiều dài, có nhiều gân (khoảng 25 chiếc), mặt lưng và mép đều có lông nhỏ, đầu có mũi nhọn nhỏ; mày trong dài bằng mày ngoài, lông có 2 gờ, khoảng cách giữa 2 gờ 2,5mm, có hai gân; trên gờ mọc dày lông mảnh, đầu tù hay hơi lõm (ở hoa tận cùng không gờ, không lông); không có mày cực nhỏ, chỉ nhị dài khoảng 1cm, bao phấn dài 6,5mm; đầu có trung đới thò ra và có mũi nhọn; nhuỵ dài 1cm, toàn bộ phủ lông mềm ngắn, bầu hình trứng, vòi rất dài, đầu nhuỵ 1, cong, màu tím. Quả hình tròn dài, dài 7-8mm, đầu tù, có lông nhung. Đặc điểm sinh thái Cây Tre Mai được trồng ở độ cao từ 200-1000m trên mặt biển. Đây là loài tre thuộc nhóm mọc cụm có thể trồng ở độ cao lớn nhất.
Cây chịu được nhiệt độ thấp trong mùa đông, có khi nhiệt độ xuống đến 00C. Cây ưa đất feralite mùn trên núi hoặc đất feralite phát triển trên các đá sa thạch, phiến thạch hoặc đá vôi. Cây cũng ưa đất bồi tụ ven sông suối, độ mùn từ trung bình đến giàu, kết cấu hạt viên, ít đá lẫn, thành phần cơ giới thịt hoặc thịt nhẹ. Sau khi trồng, cây đẻ măng ngay từ năm thứ nhất.
Kích thước và chiều cao của thân tăng dần hàng năm. Năm thứ 7, thân tre định hình, không tăng về kích thước nữa. Giai đoạn cây măng, mai tăng trưởng rất nhanh, có thể đạt trên 20- 30cm/ngày. Sau 3-4 tháng, cây măng đạt chiều cao tối đa.
Mức độ tăng trưởng của cây non phụ thuộc vào độ ẩm và độ chiếu sáng. Nếu đất khô, cây tăng trưởng chậm hơn ở đất ẩm. Chưa gặp hiện tượng cây Tre Mai khuy hàng loạt. Thường chỉ gặp cây Tre Mai ra hoa ở từng khóm hoặc từng cây.
e 6 Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng cho biết đã có hiện tượng Tre Mai tái sinh bằng hạt ở Bảo Lạc (Cao Bằng), năm 1972. Giá trị kinh tế Thân Tre Mai được dùng nhiều để làm cột nhà, dui mè, đòn tay. Cột nhà làm bằng thân mai rất bền nếu được ngâm trong nước một năm. Do lóng có đường kính lớn nên mai còn được dùng làm bè mảng, ống đựng nước và máng nước, dát giường, chế biến hàng mỹ nghệ xuất khẩu.
Hàm lượng cellulose trong thân Mai chiếm hơn 50%; sợi dài 1,4-1,6mm (trung bình 2,7mm), đường kính 26µm nên mai được dùng trong công nghiệp giấy. Ở độ ẩm 19%, thân có tỷ trọng khoảng 900kg/m3. So với cây Luồng cùng chi với Cây Mai này thì các chỉ tiêu về hàm lượng cenlulo thấp hơn không đáng kể, trong khi sợi dài vàđộ ẩm cao hơn Luồng, cụ thể thân luồng chứa cellulose (54%). sợi luồng thường có chiều dài trung bình 2,944mm, đường kính 17,84 µm,độ ẩm thí nghiệm có tỷ trọng 838 kg/m3.
Nguyễn Danh Minh và Lê Văn Bình (2005)[23], măng mai tươi gồm các thành phần: hàm lượng nước 92,4%; protein 1,81; đường tổng 2,14; gluxit 2,71; cellulose 0,51; lipid 0,18. Về giá trị măng: Theo Nguyễn Danh Minh và Lê Văn Bình (2005)[23] khi nghiên cứu kiến thức bản địa kinh doanh Tre lấy măng, bằng phương pháp cho điểm đã chọn ra 5 loài tre triển vọng nhất trong kinh doanh tre lấy măng, trong đó có loài Tre Mai. Mùa măng chính từ tháng 7 đến tháng 9. Măng Mai là loại thực phẩm quí, đặc biệt chế biến thành loại măng "lưỡi lợn".
Đó là loại măng sau khi luộc, được thái thành miếng lớn và phơi hoặc sấy khô. Giá bán của loại măng này vào dịp tết khoảng 100000- 120. Đặc biệt loài măng cây Tre Mai có hàm lượng dinh dưỡng cao nên có thể phát triển loài này để lấy măng phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. Nơi trồng Tre Mai thích hợp nhất là đồi thấp, ven khe suối, thung lũng, đất có độ dốc, đất thịt pha cát, tầng dày trên 80 cm, đất ẩm và hơi chua.
Ngoài khu vực Đinh Hóa, loài Cây mai được phân bố rải rác ở một số nơi như Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Kạn. Thân của loài này được sử dụng để làm nguyên liệu giấy, nguyên liệu xây dựng, đồ gia dụng, đồ thủ công. Còn măng được sử dụng làm thực phẩm như một loại rau. Cơ sở khoa học về cây đầu dòng Cây đầu dòng: là cây có năng suất, chất lượng cao và ổn định, tính chống chịu tốt hơn hẳn các cây khác trong quần thể một giống (giống địa phương, giống mới chọn tạo, giống nhập nội) được cơ quan có thẩm quyền bình tuyển và công nhận để làm nguồn vật liệu nhân giống.
Vườn cây đầu dòng: là vườn cây được nhân bằng phương pháp vô tính từ cây đầu dòng; được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và công nhận để làm nguồn vật liệu nhân giống. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới liên quan về loài 1. Các nghiên cứu tre trúc Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae),họ Cỏ (Poaceae), trên thế giới có khoảng 500 loài (Dai Qihui, 1998)[42].
Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng phía Nam và Đông Nam Á. Ở các nước này người dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày. Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc đã được nghiên cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: nhân giống, trồng, khai thác, sử dụng. Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo mục đích sử dụng nhất định.
Trung Quốc có khoảng 100.000 ha rừng tre trúc trồng lấy măng với năng suất trung bình 10 - 20 tấn/ha/năm và cao nhất đạt 30 - 35 tấn/ha/năm. Trung Quốc cũng có khoảng 3 triệu ha vừa sản xuất măng lại vừa sản xuất thân tre. Tổng sản lượng măng của Trung Quốc khoảng 1 triệu tấn/năm (Fu Maoyi, Xiao Jianghua, 1996).[44] Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là các nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học công trình "Các loài tre trúc" của Gamble (1896)[45] đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Mianmar, Malayxia và Inđônexia. Đến e 8 đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu tre trúc về các mặt như: lâm học, tái sinh, khai thác… Koichiro Ueda (1960) đã tiến hành thống kê số măng bị thui hàng năm ở rừng Trúc sào (Phyllostachys edulis) chiếm 60-80%, Phyllostachys reticulata 30-50% từ đó đề cập đến vấn đề khai thác tận dụng măng và áp dụng biện pháp bón phân để tăng số lượng và kích thước của thân khí sinh.
Victor Cusack (1997) [57]đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định. Theo Alrasjid (2003)[37] tre được coi là một trong những loài cây sử dụng “tham lam” dinh dưỡng của đất. Vì vậy, không sử dụng phân bón trong trồng tre sẽ làm giảm sút nhanh chóng sức sản xuất của đất, dẫn đến đất rừng trồng tre sẽ nhanh chóng bị suy thoái. Fu Maoyi & Xiao Jianghua (1996)[44] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.
Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh.