MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây chè (Camellia Sinensis (L) O.Kuntze) là loại cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng suất hiện từ lâu đời, được trồng khá phổ biến trên thế giới. Đặc biệt là một số quốc giai khu vực Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Nước chè thà thứ nước uống tốt, rể tiền hơn cà phê, ca cao, có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và chữa được một số bệnh đường ruột. Đặc biệt chất Tanin trong chè có khả năng hút chất phóng xạ, do đó nó còn chống lại được một số bệnh do chất phóng xạ gây ra [6].
Chính vì các đặc tính ưu việt trên chè đã chở thành sản phẩm đồ uống phổ biến trên toàn thế giới. Hiện nay đã có trên 40 nước trên thế giới sản xuất chè, trong khi có trên 200 nước tiêu thụ chè. Đây chính là một lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển [15]. Cây chè được trồng ở Việt Nam từ lâu đời (4000 năm), hiện nay đã được phát triển ở 34 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Cây chè ở Việt Nam cho năng suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế. Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước. Cây chè được coi là cây mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực Trung Du và miền núi [2]. Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, điều kiện đất đai và thời tiết khá thích hợp cho việc phát triển cây chè.
Toàn tỉnh hiện có 18.138 ha chè, năng suất búp tươi bình quân đạt 108,73 tạ/ha, sản lượng gần 181. Hiện nay, cây chè Thái Nguyên trở thành một trong những cây 2 trồng mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh. Thái Nguyên là một tỉnh tập trung nhiều giống chè trong đó điển hình nhất là giống chè Trung du. Giống Trung du thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var.
Macrophilla), đây là giống trồng hạt chiếm diện tích đa số trong các vườn chè của nông dân ở vùng Trung Du và vùng đồi thấp, chúng mang các tên giống địa phương như Trung du Phú Thọ, Trung du Thái Nguyên. Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Chè, giống Trung du chiếm tới 40% diện tích ở các điểm điều tra. Giống chè Trung du từ lâu đã được coi là khởi thủy của cây chè Việt Nam. Theo kết quả của các nhà nghiên cứu về chè thì chè Trung du được di thực từ Vân Nam (Trung Quốc) vào Việt Nam từ rất lâu, đã thích nghi, ổn định và phù hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng vùng Trung Du.
Được mặc nhiên mang tên chè Trung du. Do vậy mà cây chè Trung du gắn liền với tập quán sinh sống của người nông dân vùng Trung Du miền núi phía Bắc. Đây là lợi thế của giống chè Trung du cần được nghiên cứu để phát triển trong sản xuất. Hiện nay hầu hết các nương chè Trung du chủ yếu do trồng bằng hạt thường không được chọn lọc nên quần thể nương chè lẫn tạp, năng suất thấp.
Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và biện pháp kỹ thuật nhân giống chè trung du tại xã La Bằng - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Điều tra tuyển chọn được những cây chè Trung du ưu tú cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện ngoại cảnh tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển của một số cá thể chè Trung du. - Đánh giá được khả năng nhân giống của cây chè Trung du ưu tú.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong quá trình làm việc. Đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường và hoạt động thực tiễn - Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ khoa học kỹ thuật, cho người sản xuất kinh doanh chè, cho giáo viên, sinh viên, học viên học tập, nghiên cứu về cây chè. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Chọn được các cây chè Trung du ưu tú làm vườn ươm cây giống gốc có năng suất cao, chất lượng tốt, cung cấp hom chè giống đảm bảo đồng đều nâng cao năng suất và chất lượng nương chè.
- Góp phần bảo tồn giống chè Trung du mang nhiều đặc tính quý. Phạm vi nghiên cứu - Điều tra đánh giá về năng suất, chất lượng, khả năng sinh trưởng, tuyển chọn cây chè Trung du ưu tú. - Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Giống Trung du: thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var. Macrophilla), đây là giống trồng hạt chiếm diện tích đa số. Đặc điểm giống Trung du thuộc loại hình thân gỗ nhỡ, có thân chính rõ rệt, chiều cao phân cành thấp.
Giống Trung du có lá to trung bình, chiều dài lá từ 12-14 cm, chiều rộng lá 5-7 cm. Khối lượng của búp là 0,7- 0,78 gam/búp. Do trồng bằng hạt thường không được chọn lọc nên quần thể cây trồng rất lẫn tạp, năng suất thấp (bình quân chỉ đạt 5 – 6 tấn/ha). Chất lượng của búp thuộc loại khá, thích hợp để chế biến chè xanh, chè đen.
Hàm lượng tanin của giống Trung du đạt trên 26,30%, chất hoà tan 51,40%. Giống Trung du có khả năng chống chịu sâu bệnh, hạn hán khá tốt, có tính thích ứng cao và khá rộng với các vùng chè. Cơ sở thực tiễn Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng 2 - 3 năm đã có khả năng ra hoa.
Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4 %. Hoa chè là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa, đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân ly lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng. Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân ly lớn so với cây mẹ. Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả năng nhân giống bằng hạt thì người ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành… Ưu điểm của 5 phương pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến.
Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Khả năng giâm cành của chè phu thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống. Thời vụ giâm cành (điều kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm. Giống chè Trung du của tỉnh Thái Nguyên, hầu hết được mọc từ hạt do vậy có độ phân li rất lớn về sinh trưởng, phát triển và các đặc điểm hình thái.
Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài. Nghiên cứu chọn lọc cây đầu dòng phục vụ công tác nhân giống cho vùng. Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố cây chè 2. Nguồn gốc cây chè Nghiên cứu về nguồn gốc của cây chè là một vấn đề phức tạp, cho đến nay còn rất nhiều quan điểm chưa được thống nhất.
Trong đó một số quan điểm đáng tin cậy được nhiều người công nhận nhất là: * Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc Theo Daraselia, Gruzia (1989) thì các nhà khoa học Trung Quốc như Schenpen, Jaiding … đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ ở Trung Quốc như sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu của hàng loạt con sông lớn đổ về các con sông ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma. Đầu tiên, cây chè mọc ở Vân Nam, sau đó hạt chè di chuyển trôi theo dòng nước đến các vùng nói trên và lan sang các vùng khác. Cũng theo Daraselia, dựa trên cơ sở học thuyết 6 “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop thì cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc, phân bố ở khu vực Đông nam, men theo cao nguyên Tây Tạng [7]. * Chè có nguồn gốc từ vùng Assam (Ấn Độ) Năm 1823, R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam chứ không phải ở Vân Nam - Trung Quốc [7].
* Chè có nguồn gốc ở Việt Nam Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 - 1976) về phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin của lá chè được trồng trọt và mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm về sự tiến hoá sinh hoá của cây chè và trên cơ sở đó xác minh “Nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam”[7]. Các quan điểm nêu trên tuy có khác nhau về địa điểm nhưng đều có điểm chung thống nhất là: Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm [7]. Phân loại cây chè Khi nghiên cứu về cây chè, năm 1753 nhà thực vật học nổi tiếng Line đã đặt tên cho cây chè là: Thea sinensis, sau lại đặt là Camellia Sinensis. Vấn đề này cũng được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận và cũng có rất nhiều cách đặt tên.