mở đầu thời kỳ thống trị của kinh tế địa chủ" [59, tr. Bài viết của tác giả Đỗ Đức Hùng Tư tưởng kinh tế thời Lê Thánh Tông, đăng trong kỷ yếu hội thảo Lê Thánh Tông (1442 -1497) con người và sự nghiệp. Trong bài viết này, tác giả khẳng định Lê Thánh Tông đã tiếp tục tư tưởng trọng nông của các vị vua trước ông và không ngừng tăng cường vai trò, chức năng kinh tế của nhà 17 nước. "Các vua Lê nhiều lần ban hành chiếu khuyến nông nhằm khôi phục đồng ruộng bị bỏ hoang sau chiến tranh, khôi phục lễ cầy tịch điền, mở rộng và củng cố hệ thống đê ngăn lũ và đắp đê ngăn mặn mở rộng diện tích đất trồng ở vùng ven biển… chính sách lập đồn điền, thực hiện chính sách ngụ binh ư nông" [43, tr.
Không chỉ bàn về lĩnh vực kinh tế, Đỗ Đức Hùng còn đề cập đến tư tưởng trị nước của Lê Thánh Tông, cho rằng, trị nước theo tinh thần Nho giáo, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, tìm kế sách để dưỡng dân vì mục tiêu tiến tới một xã hội ổn định thuần phác, không có sự đua chen gian dối. Tuy nhiên, "để đạt được mục tiêu đó trong thực tế Lê Thánh Tông đã chấp nhận và áp dụng tư tưởng và biện pháp của Pháp gia. Hay có thể nói, đó là sử dụng theo công thức "ngoại Nho, nội Pháp" [43, tr. Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực quân sự: Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Dũng Chính sách ngụ binh ư nông các thời Lý - Trần - Lê Sơ (thế kỷ XI - thế kỷ XV) đề cập đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng.
Tác giả đã tìm hiểu và phân tích chính sách quân sự của các triều đại từ thời Lý đến thời Lê Sơ trên các phương diện như: nội dung chính sách ngụ binh ư nông; điều kiện, cơ sở của chính sách ngụ binh ư nông và tác dụng của chính sách này đối với Việt Nam từ thời Lý - Trần đến thời Lê Sơ. Theo tác giả, chính sách ngụ binh ư nông mà nhà Lê Sơ sử dụng trong kháng chiến và thời bình là sự kế thừa từ các triều đại trước đó. Chính sách này được xây dựng trên cơ sở là do chúng ta luôn phải chống lại các thế lực xâm lược hùng mạnh với quân số đông hơn nhiều so với chúng ta và do nhu cầu về sản xuất nông nghiệp cần nhiều sức lao động cũng như do chính sách đảm bảo lương thực cho binh lính. Tuy nhiên, tác giả hầu như không làm rõ vai trò của chính sách đó với tư cách là bộ phận cấu thành tư tưởng trị nước của thời Lê Sơ.
Bài viết của tác giả Nguyễn Đình Sĩ, Những cải cách trên lĩnh vực quân sự đăng trong cuốn Lê Thánh Tông (1442 - 1497) con người và sự nghiệp đã tập trung làm rõ những điều chỉnh về mặt quân sự của vua Lê Thánh Tông cũng như việc ban hành những quy định và luật pháp về quân sự của Lê Thánh Tông. Theo tác giả, "để xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, biện pháp quan trọng nhất mà Lê Thánh Tông đã thực hiện là cải cách toàn diện nền binh bị nhà nước, làm cho quân đội gọn nhẹ nhưng tinh nhuệ, có quân thường trực tại ngũ mạnh và có lực lượng dự bị đông đảo khi cần thiết" [100, tr. 18 Tóm lại, thời Lê Sơ là một giai đoạn thịnh trị của chế độ phong kiến Việt Nam. Vì vậy các công trình nghiên cứu về nhiều mặt của xã hội thời Lê Sơ khá nhiều, tuy nhiên do giới hạn nghiên cứu của tác giả mà những công trình đó mới chỉ đề cập đến một số mặt khác nhau của giai đoạn này mà chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về tư tưởng trị nước.
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƢ TƢỞNG VÀ Ý NGHĨA CỦA TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC THỜI LÊ SƠ Mặc dù chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam đã được tiến hành mấy chục năm nay, nhưng mảng vấn đề về tư tưởng trị nước trong lịch sử Việt Nam còn ít được quan tâm nghiên cứu. Hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào một vài cá nhân trong lịch sử Việt Nam mà chưa nghiên cứu một cách có hệ thống và chưa có những kiến giải thực sự sâu sắc. Những công trình nghiên cứu về lịch sử tư tưởng và tư tưởng trị nước của thời Lê Sơ được xuất bản có thể kể đến dưới đây: Cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I, do Nguyễn Tài Thư làm chủ biên, xuất bản năm 1993. Trong công trình này, các tác giả đã dành riêng chương XIV để bàn về thế giới quan và tư tưởng chính trị xã hội của Lê Thánh Tông, khẳng định: Thời Lê Thánh Tông là lúc triều đại nhà Lê đã trưởng thành, lúc ấy chế độ phong kiến trung ương tập quyền đã được củng cố.
Lê Thánh Tông mở rộng đất đai khai hoang, lập đồn điền, khuyến khích nông nghiệp. Việc làm của Lê Thánh Tông và của triều đình nhà Lê lúc bấy giờ đã đưa chế độ nhà Lê đến chỗ cực thịnh. Trong nước luôn được mùa, nhân dân no đủ, không có trộm cướp, không có chiến tranh. Bên ngoài thì được các nước láng giềng kính nể [110, tr.
Khi nhận xét về tư tưởng trị nước của Lê Thánh Tông, các tác giả cho rằng: Đóng góp quan trọng của Lê Thánh Tông là xây dựng được một đường lối trị nước có thể đáp ứng được sự phát triển xã hội lúc bấy giờ. Đó là đường lối trị nước kiểu "văn trị" hay nói cách khác là "lễ trị" hay "đức trị" <…> Ở Lê Thánh Tông chủ trương giáo dục con người theo những nguyên tắc của Nho giáo, chủ trương dùng lễ nghĩa để ràng buộc con người vào triều đình, vào chế độ, coi trọng và sử dụng những người 19 xuất thân từ Nho gia <…>, song ở ông lễ nghĩa đó phải được xây dựng trên cơ sở đời sống ấm no của dân [110, tr. Như vậy, ở công trình nghiên cứu này các tác giả đã chú trọng nghiên cứu thời trị vì của vua Lê Thánh Tông và đưa ra những nhận xét khá chính xác về tư tưởng chính trị - xã hội của ông vua này. Tuy nhiên, do mục đích và giới hạn nghiên cứu mà các tác giả chỉ tập trung vào phân tích một triều đại Lê Thánh Tông mà không nghiên cứu các triều đại trước và sau đó, do đó sẽ không phác họa được bức tranh tư tưởng tổng thể về thời Lê Sơ.
Mặt khác, mặc dù tập trung nghiên cứu về Lê Thánh Tông nhưng sự phân tích cũng chỉ mang tính khái quát những nội dung tư tưởng cơ bản cũng như những thành tựu thời Lê Thánh Tông đạt được. Trong cuốn Đức trị và pháp trị trong Nho giáo, Vũ Khiêu đã tập trung vào lý giải các quan điểm của Nho gia và Pháp gia về đức trị và pháp trị cũng như việc sử dụng chúng trong quá trình cai trị. Theo ông, "Ở phương Đông chủ yếu là các nước Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, những quan điểm đức trị và pháp trị đã từng chống đối nhau và có khi đã kết hợp với nhau trong việc quản lý đất nước và cai trị nhân dân" [48, tr. Khi lý giải về thời Lê, tác giả cho rằng, Nho giáo đi dần vào giai đoạn cực thịnh của nó.
Về tư tưởng trị nước, ông tập trung vào hai nhà tư tưởng lớn của nhà Lê là Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông. Đối với Nguyễn Trãi, tác giả Vũ Khiêu nhận xét: "Xuất phát từ lợi ích của nhân dân, Nguyễn Trãi đã có những suy nghĩ sâu sắc về đức trị và pháp trị. Theo ông, một xã hội được duy trì và phát triển không thể không có pháp luật và đạo đức. Nhưng pháp luật và đạo đức phải được xây dựng trên cơ sở của một nền văn hiến ngày một cao của dân tộc" [48, tr.
Khi đề cập đến tư tưởng cai trị của Lê Thánh Tông, tác giả Vũ Khiêu cho rằng: "Về mặt pháp trị, Lê Thánh Tông đã ban hành một bộ luật nổi tiếng của Việt Nam, đó là Bộ luật Hồng Đức… Về mặt đức trị, ông luôn luôn viết những lời răn dạy các quan và nhân dân. Ông đặt một nền tảng văn hóa cho cả đức trị và pháp trị" [48, tr. Tuy nhiên, theo tác giả: Cả đức trị và pháp trị đều bộc lộ những mặt tiêu cực. Pháp luật không còn nghiêm minh như trước, đạo đức suy thoái nhất là ở giới cầm quyền.
Đối với họ đạo đức trở thành giả dối, là cái mặt nạ để che đậy những tội lỗi xấu xa. Pháp luật là vũ khí của giới cầm quyền để đổi trắng 20 thay đen, yếu thua mạnh được. Người ta nói nhiều đến đức trị và nhân danh đạo đức để can thiệp vào pháp luật và để xử lý mọi việc theo sự tùy tiện của giới nho sĩ cầm quyền [48, tr. Mặc dù có đề cập đến vấn đề cai trị của thời Lê Sơ, nhưng công trình của Vũ Khiêu dường như không đề cập đến cơ sở xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến đức trị và pháp trị, cho nên ở đó tác giả mới chỉ tập trung vào làm rõ biểu hiện của tư tưởng đức trị và pháp trị trong đường lối cai trị của các triều đại phong kiến Việt Nam.
Vì vậy, theo chúng tôi, cần có cách tiếp cận lịch sử triết học để làm rõ thêm tồn tại xã hội Đại Việt đương thời và nhu cầu về sự kết hợp hai yếu tố cơ bản của đường lối trị nước là đức trị và pháp trị, đặc biệt là sự kết hợp này trong thời Lê Sơ. - Bài viết Hệ tư tưởng Lê của tác giả Nguyễn Duy Hinh, đây là một trong số những bài viết nằm trong chuỗi các công trình nghiên cứu liền mạch về hệ tư tưởng các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6 năm 1986. Trong bài Hệ tư tưởng Lê, tác giả không tách riêng nghiên cứu về thời Lê Sơ mà đặt nó trong tiến trình của cả thời Lê bao gồm cả giai đoạn Lê Sơ và giai đoạn Lê trung hưng, ông chia triều đại này thành giai đoạn hợp - phân (trong đó giai đoạn Lê Sơ tác giả gọi nó là giai đoạn hợp). Tác giả viết: Đặc trưng của giai đoạn hợp là sự thống nhất của chính quyền tương đối ổn định với hai nhà vua nổi bật - Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông.
Hai vị vua này ở ngôi trong thời điểm đã trưởng thành, trên tuổi thành niên, có đủ trí lực và thể lực cần thiết để điều hành và tổ chức chính quyền một cách chững chạc.