CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT 1. Quan niệm về từ ngữ tiếng Việt Hiện nay có rất nhiều quan niệm về tiếng Việt. Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về từ tiếng Việt. Nhìn chung thì có hai khuynh hướng: Từ tiếng Việt trùng với âm tiết( hay tiếng) và từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng với âm tiết.
Từ tiếng Việt trùng với âm tiết ( hay tiếng) Tiểu biểu cho khuynh hướng này là những quan niệm của các tác giả như: M.Emenneau, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp.Emenneau định nghĩa: “Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu” [7, tr. - Cao Xuân Hạo: “Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllable) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết” [7, tr.
- Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [7, tr. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng với âm tiết - Nguyễn Văn Tu: “Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất ( vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lich sử” [7, tr. - Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa ( từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [7, tr. GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 6 SVTH: Võ Văn Hưu Từ chỉ động vật trong ca dao Nam Bộ - Hồ Lê: “Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [10, tr.
- Đái Xuân Ninh: “Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh” [18, tr. - Lưu Vân Lăng: “Những đơn vị dung tách biệt nhỏ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất.
Nói cách khác, từ là ngữ đoạn tĩnh nhỏ nhất” [9, tr. “Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do hoặc chỉ một tiếng tự do hay nhiều tiếng tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp tiếng Việt” [9, tr. - Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt có một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức ( hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [1, tr. Tóm lại: Tuy có hai khuynh hướng khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất với nhau ở những tiêu chí xác định.
Đó là dựa vào những đặc điểm “có nghĩa”, tính cố định sẳn có, bắt buộc và khả năng hoạt động tự do trong lời nói để xác định từ. Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt 1. Từ đơn Là những từ được cấu tạo bởi một tiếng độc lập. Ví dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh, đỏ, vàng, tím,… - Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có lâu đời.
Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,… - Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy ( theo thống kê của A.Derode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt, biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và là cơ sở để tạo từ mới cho tiếng Việt. GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 7 SVTH: Võ Văn Hưu Từ chỉ động vật trong ca dao Nam Bộ - Xét về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt đời sống hằng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm,… 1. Từ ghép Là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm hai loại chính: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.1 Từ ghép đẳng lập Từ ghép đẳng lập có đặc trưng chung là: - Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.
- Xét về mặt ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: + Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó: • Có thế có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bụng dạ, hạn hữu, máu huyết,… • Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: máu mủ, đợi chờ, xinh đẹp,… • Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, cốt nhục,… • Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương.
Ví dụ: chân cẳng, chợ búa, bát đọi,… + Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Ví dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, đi đứng, ăn uống,… + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Ví dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,… - Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp ( tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát). - Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 8 SVTH: Võ Văn Hưu Từ chỉ động vật trong ca dao Nam Bộ hợp.
Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.2 Từ ghép chính phụ Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau: - Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật mang ý nghĩa cụ thể. Ví dụ: “xe cộ”, “xe đạp” – “xe đạp” gợi lên phạm vi sinh vật cụ thể hơn “xe cộ”. - Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoạt động lớn, yếu tố phụ thường dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.
Ví dụ: Từ “ xe đạp” – “xe” gợi lên phương tiện di chuyển trên đường bộ nói chung, còn “đạp” bổ sung cho “xe” để cụ thể hóa loại sự vật “xe”, phân biệt “xe đạp” với “xe hơi”, “xe lửa”. Từ láy Cho đến nay, nhiều vấn đề của từ láy vẫn còn để ngỏ. Về phương thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý kiến: - Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa. - Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố.
Có thể phân từ láy thành các loại sau: - Từ láy đôi: Là từ láy gồm có hai tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi như sau: + Từ láy bộ phận: Từ láy giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu. * Giống nhau ở phụ âm đầu gọi là từ láy âm. Ví dụ: Dễ dàng, đông đúc, sạch sẽ, dễ dãi,… GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 9 SVTH: Võ Văn Hưu Từ chỉ động vật trong ca dao Nam Bộ * Giống nhau ở phần vần gọi là từ láy vần.
Ví dụ: Chói lọi, co ro, khéo léo, lanh chanh,… + Từ láy hoàn toàn: Ngoại trừ những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn toàn. Cụ thể gồm các dạng sau: * Giống cả phần vần, phụ âm và thanh điệu. Ví dụ: Đùng đùng, lù lù, vàng vàng,. * Giống nhau phần vần, phụ âm, khác thanh điệu.
Ví dụ: Cỏn con, đo đỏ, tim tím, trăng trắng,… * Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối do sự chi phối của qui luật dị hóa. Ví dụ: Đèm đẹp, bang bạc, sành sạch, tôn tốt,… - Từ láy ba: Chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn. Ví dụ: Nhũn nhũn nhùn nhùn Khỏe khỏe khòe khoe Con cỏn còn con Sạch sạch sành sanh Dưng dửng dừng dưng Khít khít khìn khịt Từ láy ba có các kiểu phối thanh thường gặp: + Tiếng thứ hai mang thanh bằng (thường xuất hiện thanh huyền hơn thanh ngang). Ví dụ: Cỏn còn con, dửng dừng dưng, sạch sành sanh,… + Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về đường nét bằng / trắc hoặc về âm vực cao / thấp.
Ví dụ: Khít khìn khịt, sát sàn sạt, xốp xồm xộp,… Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít. Ví dụ: tù lù mù, tơ lơ mơ,… - Từ láy tư: GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 10 SVTH: Võ Văn Hưu Từ chỉ động vật trong ca dao Nam Bộ Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là từ ghép. So với từ láy ba, từ láy tư khá đa dạng về kiểu cấu tạo. Sau đây là một số kiểu láy thường gặp: + Láy bộ phận kết hợp với đổi vần –a, -à hay –ơ.
Ví dụ: Ấm ớ ấm a ấm ớ Hì hục hì hà hì hục Sớn sát sớn sơ sớn sát + Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh. Ví dụ: Bồi hồi bồi hổi bồi hồi Lảm nhảm lảm nhảm làm nhàm + Láy bộ phận kết hợp với tách, xen.