mở đầu cho thời kỳ sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình.2 Lịch sử phát triển lò phản ứng hạt nhân Vào thập niên 50 của thế kỷ trước với sự phát triển của thành tựu khoa học trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân đầu tiên thế hệ I ra đời với tên là Magnox do 3 nhà vật lý người Anh là Ts. Khalil, và Ts. MagWood sáng chế và tung ra thị trường. Các thế hệ lò phản ứng được phát triển trên thế giới là [7]: a- Lò phản ứng thế hệ I 5 Lò này chính là lò Magnox, nhiên liệu sử dụng là Urani trong thiên nhiên với thành phần 0,7% chất đồng vị U235 và 99,3% U238.
Nguyên tắc hoạt động của lò này là các ống nhiên liệu Urani được bọc bằng một hợp kim Al – Mg. Một lớp than Graphit nằm giữa ống và lớp hợp kim có tác dụng làm chậm bớt vận tốc phóng thích nơtron do sự phân hạch U 235. b- Lò phản ứng thế hệ thứ II Loại lò này ra đời vào thập niên 70 của thế kỷ trước, hiện tại vẫn đang hoạt động trên thế giới. Nhiên liệu sử dụng trong lò là hợp chất Urani điôxit, trong đó thì U 235 được làm giàu từ 0,7%-3,5%.
Các ống nhiên liệu được bọc bằng kim loại zirconi. Loại lò này hoạt động theo 2 nguyên lý: - Lò nước áp lực (Pressurized water reactor - PWR): Nước trong lò phản ứng là nước chưa sôi có áp suất cao vừa sử dụng làm chất làm mát vừa là chất làm chậm điều hoà phản ứng. - Lò nước sôi (Boiling water reactor – BWR): Nước được đun sôi rồi trong lò phản ứng rồi mới chuyển qua hệ thống làm tăng áp suất, phương pháp này sẽ rút ngắn tiến trình tạo nhiệt của hơi nước khi chuyển nhiệt lượng qua các turbine. c- Lò phản ứng thế hệ thứ III Lò này thực chất là lò BWR được nghiên cứu cải tiến để giảm chi phí xây dựng, và đảm bảo vận hành an toàn.
d- Lò phản ứng thế hệ thứ IV Đây là các lò phản ứng của tương lai, hiện nay nó vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm. Đặc điểm chính của nó là có mức độ tự động hóa cao, khả năng cung cấp năng lượng lớn và chúng không chỉ sản xuất điện năng mà còn sản xuất Hyđro.3 Công nghệ lò phản ứng hạt nhân hiện nay và trong tương lai 6 Hiện nay trên thế giới có khoảng 447 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động chiếm hơn 17% tổng điện năng trên toàn thế giới [7]. Chủ yếu ở các nước sau: Mỹ có 103 lò với tổng công suất 101.000MW, Pháp có 58 lò tổng công suất 63.000MW, Nhật Bản có 51 lò tổng công suất 45.000MW, Đức có 19 lò tổng công suất là 22.000MW, Nga có 30 lò tổng công suất 21.000MW, Anh có 33 lò phản ứng với tổng công suất 13.000MW, Trung Quốc có 8 lò phản ứng với tổng công suất 5. Các lò hiện nay chủ yếu là lò phản ứng sử dụng công nghệ phân hạch (Nuclear fission Reactor), nhiên liệu sử dụng là Urani-235.
Hiện nay công nghệ lò phản ứng nhiệt hạch (Nuclear fusion Reactor) đang được nghiên cứu và sẽ được ứng dụng trong tương lai vì khả năng cho nguồn năng lượng gần như vô tận của nó. Hiện nay Mỹ, Nga, Nhật Bản, EC (Cộng đồng chung châu Âu) với khoảng 1200 chuyên gia có trình độ cao đang hợp tác nghiêm cứu, thử nghiệm, phát triển lò phản ứng nhiệt hạch (LòTokamakL), dự kiến sớm nhất đến năm 2050 loại lò này sẽ được thương mại hoá.2 Phân loại và cấu trúc của lò phản ứng hạt nhân 1.1 Khái niệm về lò phản ứng hạt nhân Lò phản ứng hạt nhân là thiết bị có thể điều khiển và kiểm soát phản ứng phân hạch, nhiệt hạch để thu được năng lượng nhiệt do phản ứng phân hạch, nhiệt hạch tạo ra [12].2 Phân loại lò phản ứng hạt nhân Theo nguyên lý phản ứng trong lò phản ứng hạt nhân mà ta chia làm hai loại lò cơ bản: - Lò phản ứng hạt nhân nhiệt hạch – Nuclear fusion Reactor (Thermal nuclear Reactor) được nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ trước. Hiện nay loại lò này chưa được phân loại cụ thể mà mới chỉ dừng lại ở lò mẫu - mô hình (Prototype Reactor) như lò STARFIRE /DEMO, lò FINTOR – D; các lò 7 thử nghiệm (experimental Reactor) như FER, FED, INTOR, và một số lò sản xuất điện năng (Power Reactor) như $PTR – P, STARFIRE - Lò phản ứng hạt nhân phân hạch – Nuclear fission Reactor. Hiện nay loại lò nay đang được sử dụng trên thế giới trong lĩnh vục quân sự (Tàu ngầm,…), trong sản xuất điện năng.
Loại lò này có các cách phân loại chính như sau [7]: a- Lò khí Là lò sử dụng khí làm chất tải nhiệt, khí sử dụng là khí CO2 hoặc He. Nhiên liệu sử dụng là Urani tự nhiên. Lò này phát triển rất mạnh ở Anh, nhưng do yêu cầu về kỹ thuật cũng như kinh tế mà nó đang dần được thay thế bằng các lò nước nhẹ. b- Lò nước nặng (Pressurized heavy water reactor – PHWR) Là lò sử dụng nước nặng làm chất tải nhiệt.
Nhiên liệu sử dụng là Urani tự nhiên. c- Lò nước nhẹ Là lò dùng nước nhẹ làm chất làm chậm và chất tải nhiệt.Nhiên liệu sử dụng là Urani làm giàu tới 4%.Có hai loại lò nước nhẹ: - Lò nước áp lực (Pressurized water reactor – PWR): làm nước bốc hơi nhờ thiết bị trao đổi nhiệt với chất tải nhiệt là nước áp suất cao, do đó mà nước không bị nhiễm xạ. Lò này được sử dụng chủ yếu trong các tàu ngầm quân sự. - Lò nước sôi (Boiling water reactor – BWR): Nước được bốc hơi ngay khi tiếp xúc với bề mặt trao đổi nhiệt của thanh nhiên liệu mà không cần thiết bị trao đổi nhiệt.
d- Lò phản ứng tái sinh nhanh Là lò sử dụng Plutoni làm nhiên liệu, và chất tải nhiệt là Natri nóng chảy (Na có điểm nóng chảy 98oC và điểm sôi là 881 oC). Lò này sử dụng thiết 8 bị trao đổi nhiệt nhiều vòng. Nếu sử dụng Plutoni thì thời gian sử dụng lò phản ứng hạt nhân phân hạch có thể lên đến 3000 năm trong khi sử dụng U235 chỉ còn vài chục năm. Do Plutoni cũng tự phóng xạ như U235 mà dễ dàng tạo ra từ U 238 có chủ yếu trong tự nhiên theo phương trình phản ứng: 1→ 0 → 239 → 92 U 238 + 0n 92U 239 - -1e 93Np 94Pu + -1 e0 (1.3 Cấu trúc của lò phản ứng hạt nhân a) Lò phản ứng nhiệt hạch: Lò phản ứng nhiệt hạch là lò phản ứng sử dụng các phản ứng nhiệt hạch (tổng hợp hạt nhân) để sinh năng lượng, lò phản ứng hạt nhân nhiệt hạch có cấu trúc như sau: Hình 1.1: Cấu trúc lò phản ứng hạt nhân nhiệt hạch (tổng hợp) Nhiên liệu sử dụng trong lò nhiệt hạch là Liti hydrua LiD ở trạng thái rắn, Li2O, LiAlO2 , Li 4SiO4, Li2 ZrO3.
Nhiên liệu nay dễ sản xuất vì Liti có sẵn trong tự nhiên còn Đơteri có sẵn trong nước biển. Trong lò phản ứng đồng vị Li 6 sẽ biến thành Triti do hấp thụ các nơtron nhanh theo phương trình phản ứng sau [2]: 9 6 3Li + 0n1 → 2He4 + 1T3 + Q1 (1.3) Nhiệt lượng sinh ra trong các phản ứng trên là rất lớn (Ví dụ: 1 kg hỗn hợp hyđrô nặng toả ra năng lượng 9,20.107 kWh gấp 4 lần năng lượng sinh ra do 1 kg U235 toả ra 2,3. Khi nhiên liệu bị nung nóng ở nhiệt độ cao sẽ bốc hơi tạo nên một trạng thái thứ tư của vật chất được gọi là Plasma. Trạng thái Plasma là trạng thái hỗn hợp của ion và electron khi nguyên tử của nhiên liệu bị bóc các lớp electron ở nhiệt độ cao tạo ra năng lượng từ trường.
Năng lượng từ trường này biến thành động năng Plasma tạo ra nhiệt lượng Q1. Khi phản ứng nhiệt hạch xảy ra thì nhệt lượng thu được là Q2. Lò phản ứng được thiết kế cấu trúc theo cấu trúc thiết kế Plasma với các thành phần được thiết kế sao cho việc thu được nhiệt do cả hai phản ứng trên tạo ra. b) Lò phản ứng phân hạch: Hình 1.2: Lò phản ứng hạt nhân phân hạch trong nhà máy điện nguyên tử 10 Năng lượng sinh ra trong lò phản ứng phân hạch là từ các phản ứng dây chuyền của U235 khi nó hấp thụ nơtron nhiệt và phân hạch.
Cơ chế phản ứng phân hạch của U235 như sau [1]: 235 92U + 0 n1 → 92U236 → 56 Ba141 + 36Kr92 + 30n1 + Q (1.1010 kJ/mol) Lò phản ứng hạt nhân phân hạch gồm các bộ phận chính sau [12]: - Thanh nhiên liệu hạt nhân tạo ra sự phân hạch và sinh nhiệt. - Chất làm chậm, có tác dụng làm giảm tốc độ của các nơtron sinh ra từ các phản ứng phân hạch, tạo ra các nơtron nhiệt duy trì phản ứng dây chuyền trong lò phản ứng. - Các vành phản xạ nơtron - Bộ phận tải nhiệt với chức năng thu nhiệt sinh ra do phân hạch hạt nhân từ tâm lò phản ứng chuyển ra bộ phận bên ngoài. - Các thanh điều khiển để điều chỉnh quá trình phân hạch.
- Nhiên liệu của lò phản ứng hạt nhân Nhiên liệu sử dụng trong lò phản ứng hạt nhân là các chất có khả năng phân hạch như Urani, Plutoni. Urani tự nhiên chỉ chứa một nồng độ U235 rất nhỏ (khoảng 0,7%) nên chỉ sử dụng làm nhiên liệu trong các lò phản ứng nước nặng hoặc lò phản ứng làm nguội bằng khí và dùng chất làm chậm bằng than chì. Trong các lò phản ứng hạt nhân thông dụng hiện nay như lò nước sôi (BWR) hay lò nước áp lực (PWR) người ta sử dụng Urani đã được làm giàu. Urani được làm giàu đến 4% ở dạng Urani điôxit thích hợp sử dụng trong các lò phản ứng nước nhẹ.
Còn Plutoni thích hợp trong các lò phản ứng tái sinh nhanh. - Chất làm chậm của lò phản ứng hạt nhân 11 Chất làm chậm chính là vật liệu kìm hãm nơtron tốc độ cao thành nơtron nhiệt. Vật liệu làm chất làm chậm từ các nguyên tố có nguyên tử lượng nhỏ. Các chất làm chậm thông thường là: - Nước nhẹ (nước thông thường) có hiệu suất làm chậm tốt, giá thành rẻ nhưng nó hấp thụ nơtron một cách lãng phí.
- Nước nặng có hiệu suất làm chậm tốt, không hấp thụ nơtron một cách lãng phí nhưng khó điều chế, giá thành cao. - Than chì (graphit) hiệu suất làm chậm thấp nhưng lại hấp thụ ít nơtron và giá thành tương đối rẻ.