MỞ ĐẦU Hóa học azacrao ete đƣợc bắt đầu từ những năm 1960, khi nhà hóa học Pedersen, tập đoàn Dupont phát minh và lần đầu tiên tổng hợp đƣợc hơn 60 dẫn xuất crao ete với số lƣợng oxy từ 4 tới 20 nguyên tử, kích thƣớc của vòng crao từ 12 đến 60 cạnh. Với các kết quả này, Pedersen đã đƣợc trao giải thƣởng Nobel vào năm 1987. Kể từ đó đến nay, hóa học azacrao ete không ngừng phát triển, ứng dụng vào mọi mặt của đời sống. Hiện nay, các dẫn xuất crao ete có chứa đồng thời tiểu dị vòng nitơ hiện đang là hƣớng nghiên cứu mới, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học.
Trong số đó, dẫn xuất azacrao ete có chứa đồng thời vòng crao ete và dị vòng pyridin là một mục tiêu quan trọng của các nhà tổng hợp hữu cơ, trên con đƣờng tìm kiếm các hợp chất mang hoạt tính sinh học quý giá bởi họ hy vọng rằng, dƣợc tính quý báu của nhân pyridin [1] sẽ góp phần tạo cho các sản phẩm crao ete có tiềm năng ứng dụng cao trong dƣợc phẩm và y học. Từ những năm 1990, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hóa học tổ hợp, các phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân (MCR) đã góp phần xây dựng và phát triển những thƣ viện chất mới, có cấu tạo phân tử đa dạng, hoạt tính sinh học phong phú cũng nhƣ hiệu quả sử dụng cao. Với các đặc điểm ƣu việt của phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân nhƣ đa dạng về cấu tạo của các chất ban đầu, tiết kiệm thời gian, hóa chất so với việc tổng hợp truyền thống, chúng tôi đề xuất việc tổng hợp các dẫn xuất azacrao ete mới, chứa đồng thời hệ dị vòng crao ete và vòng pyridin bằng phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân. Hƣớng nghiên cứu là phƣơng pháp khả thi và hỗ trợ đắc lực trên con đƣờng tìm kiếm các hợp chất mới có hoạt tính sinh học hữu ích.
Với các mục tiêu trên, chúng tôi tiến hành triển khai đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp và hoạt tính sinh học các dẫn xuất 4-arylpyridinaza-14-crown-4- ether” dựa trên phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1- TỔNG QUAN Phần tổng quan, sẽ giới thiệu về các phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân (MCR) cùng ứng dụng của các phản ứng này. Phản ứng ngưng tụ đa tác nhân [27]. Năm 1850, các phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân lần đầu tiên đƣợc biết đến bởi sự ra đời của phản ứng Strecker (S-3CR)- tổng hợp α-aminoxyanit từ amoniac, hợp chất cacbonyl và hidro xianua.
Năm 1882, phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân đƣợc mở rộng bởi Arthur R. Hanztsch khi ông tiến hành ngƣng tụ giữa amin, andehit và hợp chất 1,3-dicacbonyl (H- 4CR) tạo 1,4-dihydropyridin. Khoảng 25 năm sau, vào năm 1917, đánh dấu bƣớc ngoặt lớn trong ứng dụng của các phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân khi lần đầu tiên Robinson tổng hợp thành công một ancaloit là tropinon bằng phản ứng Mannich (M- 3CR). Phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân đƣợc định nghĩa là những phản ứng trùng ngƣng, trong đó chất sản phẩm đƣợc tạo thành chỉ bằng một quá trình phản ứng từ ít nhất ba chất ban đầu và trong cấu trúc sản phẩm có chứa tất cả các cấu phần chính của các chất ban đầu này.
Ví dụ: - Phản ứng ngƣng tụ từ 4 tác nhân ban đầu (“n” tác nhân với “n” trung tâm phản ứng): A + B + C + DA-B-C-D - Hoặc tồn tại những phản ứng ngƣng tụ từ 3 tác nhân với 4 trung tâm phản ứng (“n” tác nhân với “m” trung tâm phản ứng, trong đó m>n): A + B-C + DA-B-C-D 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những năm gần đây, xu hƣớng áp dụng loại hình phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân vào các phản ứng căn bản ví dụ nhƣ phản ứng cộng Michale theo kiểu ngƣng tụ đa tác nhân hay phản ứng gốc kết hợp với phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân… đã rất thành công trong việc tăng hiệu suất các quá trình tổng hợp hữu cơ. Theo hƣớng diễn biến của quá trình tạo thành chất mới, phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân có thể đƣợc phân loại nhƣ sau: - Dạng thứ 1: Tất cả các phản ứng thành phần đều là thuận nghịch. C¸c chÊt ban ®Çu [C¸c chÊt trung gian] S¶n phÈm ph¶n øng Chất tham gia của dạng phản ứng này thƣờng là amin, hợp chất cacbonyl hoặc axit yếu… Do các quá trình phản ứng là thuận nghịch nên độ tinh khiết cũng nhƣ hiệu suất sản phẩm không đƣợc cao. - Dạng thứ 2: Phản ứng chính là quá trình thuận nghịch nhƣng sản phẩm chính là không thuận nghịch.
C¸c chÊt ban ®Çu [C¸c chÊt trung gian] S¶n phÈm ph¶n øng Ở dạng phản ứng thứ nhất, nếu một trong các chất đầu thuộc dạng lƣỡng chức thì sau đó, quá trình tạo sản phẩm chính sẽ chuyển từ thuận nghịch sang bất thuận nghịch. Do đó mà hiệu suất sản phẩm sẽ đƣợc đẩy lên cao. - Dạng thứ 3: Tất cả các bƣớc đều là bất thuận nghich. C¸c chÊt ban ®Çu [C¸c chÊt trung gian] S¶n phÈm ph¶n øng Dạng phản ứng thứ 3 ít thấy xuất hiện trong hóa học tổng hợp.
Tuy nhiên, trong tự nhiên, phần lớn các lớp chất sinh hóa đều đƣợc tổng hợp theo dạng này. Ví dụ, phản ứng Ugi- quá trình ngƣng tụ 4 tác nhân (U-4CR) tạo thành các dẫn xuất α-axylamidoamit xảy ra theo dạng thứ 2: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phản ứng Ugi- 4 tác nhân Quá trình tổng quát trên đƣợc biểu diễn nhƣ sau [2, 3]: Sơ đồ 1. Cơ chế phản ứng U-4CR Những ƣu điểm lớn của các phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân so với phƣơng pháp truyền thống là tiết kiệm thời gian, hóa chất, sản phẩm tạo thành cho hiệu suất cao, ít tiêu hao năng lƣợng, độ chọn lọc của phản ứng tăng lên và đồng thời không cần thiết phải tách hay phân lập các hợp chất trung gian.
Ví dụ so sánh giữa phƣơng pháp thông thƣờng (phƣơng pháp A) với phƣơng pháp tổng hợp bằng phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân (phƣơng pháp B). 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ph-¬ng ph¸p A NÕu gi¶ sö hiÖu suÊt cña tõng qu¸ tr×nh lµ 50%, th× hiÖu suÊt tæng tõ chÊt A t¹o ra s¶n phÈm cuèi cïng ABCD lµ 12,5% B C C D C 1 mol 1 mol 1 mol A A B A B A B 1mol 50% 0,5 mol 50% 0,25 mol 50% D 0,125 mol Ph-¬ng ph¸p B Ph¶n øng ng-ng tô ®a t¸c nh©n (one-pot) h×nh thµnh s¶n phÈm cuèi cïng víi hiÖu suÊt cao h¬n (~50%) vµ trong thêi gian ng¾n h¬n, chi phÝ Ýt h¬n C A + B + C + D A B 50% D 1mol 1 mol 1 mol 1 mol 0,5 mol Sơ đồ 1. So sánh hiệu suất tổng hợp Chính nhờ các ƣu điểm trên, hiện nay, phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân là một trong những phƣơng pháp quan trọng trong hóa học tổ hợp, nhằm tổng hợp thƣ viện chất phục vụ cho nghiên cứu hóa dƣợc. Ví dụ, trên cơ sở phản ứng ngƣng tụ của 4 tác nhân và mỗi tác nhân lại có n dẫn xuất (với các nhóm thế khác nhau) thì chúng ta sẽ thu đƣợc n4 sản phẩm tạo thành.
D1 Dn (3) n n + n + Dn A + B C n4 products - Nếu mỗi tác nhân (A, B, C, D) có n= 5 dẫn xuất (tổng cộng 5x 4 = 20 chất ban đầu) 54 = 625 sản phẩm. - Nếu n = 20 (20x 4 = 80) 204 = 16000000 sản phẩm. Do tính ƣu việt của phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân mà hiện nay, các nhà khoa học không ngừng biến đổi điều kiện thí nghiệm của loại phản ứng này nhằm thu đƣợc các hợp chất có tính chất thú vị. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Giới thiệu một số phản ứng ngưng tụ đa tác nhân, hiện đang được nghiên cứu phát triển 1. Phản ứng Mannich [10, 27] Là dạng phản ứng ngƣng tụ đa tác nhân giữa andehit, amin và dẫn xuất xeton theo sơ đồ tổng quát sau: Sơ đồ 1. Phản ứng Mannich Các chất đầu của phản ứng Mannich là amin bậc 1 hoặc bậc 2, một loại andehit không có khả năng enol hóa nhƣ C6H5CHO, (CH3)3CCHO… và một hợp chất cacbonyl có khả năng enol hóa. Phản ứng Mannich là một ví dụ của quá trình cộng hợp nucleophin của hợp chất amin vào nhóm cacbonyl, sau đó là quá trình tách loại nƣớc tạo bazơ Schiff.
Bazơ Schiff sẽ là tác nhân electrophin phản ứng ở bƣớc tiếp theo nên bƣớc tiếp theo của phản ứng Mannich có thể coi là quá trình cộng electrophin với một hợp chất có chứa proton axit [2, 3, 46]. Cơ chế của phản ứng Mannich xảy ra theo 2 bƣớc. Bƣớc đầu tiên là hình thành ion imin từ amin và andehit. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Qúa trình tạo ion imin trong phản ứng Mannich Sau đó, hợp chất chứa nhóm chức cacbonyl sẽ bị tautome hóa rồi tấn công vào ion imin vừa hình thành. Sản phẩm của phản ứng Mannich Trong dƣợc phẩm, các loại thuốc chống viêm và chống trầm cảm nhƣ Rolitetraxylin hay Tolmetin đều đƣợc tổng hợp dựa trên phản ứng Mannich [5]. Phản ứng này cũng đƣợc dùng để tổng hợp các nhóm chất có tác dụng kích thích và điều hòa sinh trƣởng của thực vật [6, 7]. Hiện nay, các cơ quan chức năng gặp khó khăn khi đánh giá hàm lƣợng melamin có trong sữa bột thì với phƣơng pháp của Jamil Rima, thực hiện phản ứng Mannich giữa melamin, foocmandehit và một hợp chất xeton trong môi trƣờng nƣớc đƣợc cho là công cụ kiểm tra hữu hiệu, nhanh và chính xác.
Phƣơng pháp này có giá trị thu hồi lên tới 97% và giới hạn phát hiện melamin 0,007 μg ml−1 [20]. Bikash Karmakar cùng các cộng sự cũng đã biến đổi phản ứng Mannich bằng cách thay thế amoniac bằng ankyl amin tạo ra các dẫn xuất 1-(α-aminoankyl)- 2-napthol hay còn gọi là các Betti bazơ. Phản ứng xảy ra trong môi trƣờng nƣớc với sự có mặt của nano MgO làm xúc tác có thể cho hiệu suất phản ứng lên đến 89% [9]. Axit Lewis làm xúc tác cho phản ứng Mannich giữa 3 tác nhân là andehit, amin và silyl enolat phải đƣợc đƣa về dạng anhydrit bởi nhiều imin không bền trong 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trƣờng nƣớc.
Do đó, các nhà khoa học thuộc trƣờng đại học Nanjing- Trung Quốc đã phát triển một loại axit Lewis mới là muối của kim loại đất hiếm với pefloroctansunfonat (RE(OSO2C8F17)3, RE(OPf)3, RE = Sc, Y, La- Lu. Loại muối này có độ hút ẩm thấp, khả năng tái chế cao và có thể hòa tan tốt trong dung môi peflorocacbon- một trong những loại dung môi rất thân thiện với môi trƣờng.