Chương 1: Nghiên cứu tổng quan. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết tối ưu hóa công trường trên quan điểm lợi ích kinh tế. - Chương 3: Áp dựng kết quả nghiên cứu cho dự án QL1A đoạn Hòa Cầm – Hòa Phước. - Chương 4: Kết luận và kiến nghị.
NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN. Mục tiêu của đề tài là Tối ưu hóa công trường bảo trì mặt đường trên quan điểm lợi ích kinh tế, vì vậy nội dung của chương nghiên cứu tổng quan sẽ được xây dựng để làm sáng tỏ các vấn đề sau: 1. Tổng quan về ảnh hưởng của công trường tới lợi ích kinh tế; 2. Tổng quan kết cấu áo đường; 3.
Tổng quan về công tác bảo trì mặt đường; 4. Tổng quan về phân tích kinh tế dự án xây dựng công trình giao thông; 5. Các nghiên cứu có liên quan. Các nội dung này sẽ lần lượt được trình bày chi tiết dưới đây.1 Tổng quan về ảnh hưởng của công trường tới lợi ích kinh tế.
Luận văn được xây dựng với đối tượng nghiên cứu là công trường bảo trì mặt đường (mà từ nay tạm gọi là công trường). Theo quan điểm được trình bày trong [12], khi có công trường, việc đóng một số làn để tiến hành bảo trì mặt đường sẽ ảnh trực tiếp đến người sử dụng đường (tổn thất) thông qua hai yếu tố: - Giảm tốc độ hoạt động và thay đổi tốc độ liên quan; - Tăng thời gian đi lại và hình thành hàng đợi trong công trường. Cả hai yếu tố trên đều là kết quả trực tiếp của việc năng lực thông hành của tuyến đường bị giảm do sự xuất hiện của công trường. Các tổn thất này ở khu vực thành thị là khác biệt so với khu vực nông thôn.
Khu vực đô thị nói chung có một số tuyến đường thay thế có sẵn cho phép người sử dụng đường có thể có hai lựa chọn là xếp hàng tại vị trí để di chuyển qua khỏi công trường hoặc chuyển hướng đến các tuyến đường khác. -11- Đối với tuyến quốc lộ hoặc các tuyến đường cao tốc ở các vùng nông thôn thường có ít các tuyến đường thay thế. Do đó, người sử dụng đường chỉ còn cách duy nhất là phải xếp hàng tại vị trí để di chuyển qua khỏi công trường. Mô hình của dòng xe qua công trường được mô tả trong sơ đồ hình 1.
Dòng xe đang đi trên đường trước khi vào công trường với một vận tốc cho phép. Khi nhìn thấy biển báo hiệu công trường (đoạn AB) dòng xe bị buộc phải giảm tốc độ. Nếu có một hàng đợi trước khi đi qua công trường, người lái xe sẽ xếp hàng để được di chuyển lên qua hàng đợi (đoạn BC). Một khi họ vượt qua hàng đợi họ sẽ tăng tốc đến tốc độ mà họ sẽ được phép chạy trong khu vực công trường (đoạn CD).
Đến khi di chuyển khỏi công trường (đoạn DE), họ sẽ tăng tốc trở lại tốc độ ban đầu (đoạn EF). v Ën t è c ®o ¹ n t h a y ®« i ®o ¹ n t h a y ®« i ®o ¹ n t h a y ®« i v Ën t è c h µn h t r ×n h t è c ®é ®o ¹ n x Õp h µn g t è c ®é c « ng t r uê ng t è c ®é h µn h t r ×n h Hình 1. 1 Biến đổi của vận tốc xe chạy khi qua khu vực công trường bảo trì mặt đường [12] Như vậy, có thể nhận thấy là khi qua khu vực công trường, xe và người tham gia giao thông sẽ phải chịu các tổn thất liên quan tới tiêu hao nhiên liệu, thời gian, khí thải. Các tổn thất này một khi quy thành tiền sẽ là một chỉ tiêu quan trọng về lợi ích kinh tế, xã hội, có thể được dùng để đánh giá, tối ưu hóa các thông số của công trường có ảnh hưởng trực tiếp tới dòng xe.
Một cách -12- định tính, công trường càng tối ưu thì các tổn thất trên càng nhỏ. Theo nghiên cứu [11], trong khuôn của luận văn, các thông số này có thể giới hạn bao gồm: - Chiều dài đoạn thi công công trường; - Số làn xe bị đóng. - Số ca thi công trong ngày Tất cả sẽ được bước đầu nghiên cứu cho đường ô tô 4 làn xe. Điều này sẽ được làm rõ hơn ở chương 2 của luận văn.2 Tổng quan về kết cấu áo đường.1 Kết cấu áo đường mềm.1 Cấu tạo chung.
Kết cấu áo đường mềm (hay gọi là áo đường mềm) (hình 1.2) gồm có tầng mặt làm bằng các vật liệu hạt hoặc các vật liệu hạt có trộn nhựa hay tưới nhựa đường và tầng móng làm bằng các loại vật liệu khác nhau đặt trực tiếp trên khu vực tác dụng của nền đường hoặc trên lớp đáy móng. Để chịu được các tác dụng đó, tầng mặt đòi hỏi phải được làm bằng các vật liệu có cường độ và sức liên kết tốt (các khoáng chất có cường độ cao được chèn móc tốt hoặc các hỗn hợp vật liệu có dùng thêm chất dính kết vô cơ hoặc hữu cơ). Ngoài ra lớp mặt trên thường dùng vật liệu kích cỡ nhỏ vừa để giảm phá hoại bong bật do lực ngang, nếu lớp mặt trên có bề dày dưới 3cm thì lớp mặt trên đó gọi là lớp hao mòn. Khi sức liên kết của vật liệu không đủ so với lực tác dụng của xe chạy (khi cường độ vận tải lớn…) thì trên lớp mặt trên còn được làm thêm lớp hao mòn và lớp bảo vệ để hạn chế bớt được tác dụng xung kích, xô trượt, mài mòn trực tiếp của bánh xe và ảnh hưởng xấu khác của thiên nhiên xuống lớp phía dưới.
-13- Lớp hao mòn là một lớp mỏng 1 đến 3cm làm bằng vật liệu có dính kết (nhiều hoặc ít) đặt trên lớp mặt chủ yếu. Trong tính toán kết cấu áo đường, lớp hao mòn và lớp bảo vệ không được tính vào bề dày của tầng mặt. Lớp mặt dưới (lớp liên kết) thường dùng làm bằng bê tông nhựa rỗng, nhiều hoặc vừa đá dăm và bắt buộc phải bố trí trong trường hợp sau: - Lưu lượng xe lớn và nhiều xe nặng khi bề dày lớp mặt trên dưới 5cm; - Mặt đường có yêu cầu cao về độ bằng phẳng; - Tầng móng là vật liệu gia cố chất liên kết vô cơ. Khác với tầng mặt, tầng móng chỉ chịu lực thẳng đứng.
Về mặt cơ học nhiệm vụ của tầng móng là truyền và phân bố lực thẳng đứng xuống nền đất để khi truyền đến nền đất thì ứng suất sẽ giảm đến một mức độ đảm bảo cho nền đường có thể chịu đựng được mà không tạo nên biến dạng thẳng đứng hoặc biến dạng trượt quá lớn. Vì lực thẳng đứng truyền xuống ngày càng bé đi nên để tiết kiệm, tầng móng có thể gồm nhiều lớp bằng các loại vật liệu khác nhau có cường độ giảm dần từ trên xuống. TÇng mãng TÇng mÆt Lí p t¹ o nh¸ m (nÕu c ã ) (hay kÕt cÊu ¸ o ®- êng) Lí p m Æt (Surfa c ing ) (Pavement structure) ¸ o ®- êng (KÕt cÊu tæng thÓ nÒn mÆt ®- êng) Lí p m ã ng trª n (Ba se ) KÕt cÊu nÒn ¸ o ®- êng Lí p m ã ng d - í i (Sub -b a se ) Khu vùc t¸ c dông 80-100 cm Lí p ®¸ y m ã ng (C a p p ing la ye r) (Subgrade) Hình 1. 2 Sơ đồ các tầng, lớp của kết cấu áo đường mềm và kết cấu nền - áo đường -14- 1.2 Yêu cầu vật liệu.
Hỗn hợp vật liệu để tạo nên các lớp kết cấu mặt đường thường gồm hai loại: vật liệu chính (hay gọi là cốt liệu) và vật liệu liên kết. Cốt liệu thường là đất, đá, cuội sỏi… mà bất cứ tầng, lớp nào trong kết cấu mặt đường cũng đều phải dùng một trong các loại đó. Còn vật liệu liên kết được trộn vào cốt liệu với một tỉ lệ nhất định để tăng cường liên kết giữa các hạt cốt liệu, do đó tăng cường độ của cả hỗn hợp vật liệu. Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu cũng như điều kiện làm việc của mỗi tầng, lớp có thể có những tầng lớp không cần vật liệu liên kết.
Vật liệu liên kết gồm 3 loại: vật liệu liên kết thiên nhiên (như đất sét dính), vật liệu liên kết vô cơ (xi măng, vôi…), vật liệu liên kết hữu cơ (nhựa, các chất hóa học…). Ngoài cốt liệu và vật liệu liên kết ra, nhiều khi người ta còn dùng thêm các chất phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ. Mục đích chính của việc dùng các phụ gia thường là để cải thiện điều kiện tiếp xúc và bao bọc nhằm giúp cho tác dụng của vật liệu liên kết đối với cốt liệu được tốt hơn, nhờ đó tăng được cường độ của hỗn hợp vật liệu, hoặc tạo điều kiện cho việc thi công dễ dàng hay nhằm tăng cường một số tính chất đặc biệt nào đó của hỗn hợp vật liệu (tăng tính dẻo, tính ổn định nhiệt…). Từ nguyên lý cấu tạo của kết cấu áo đường như đã trình bày ở trên và nhiệm vụ của từng lớp vật liệu thì vật liệu sử dụng để làm kết cấu áo đường hiện nay thường có cường độ giảm dần từ trên xuống dưới.
Việc phối hợp thành phần vật liệu, tỷ lệ phối hợp giữa các thành phần dựa vào một trong các nguyên lý sau: + Nguyên lý đá chèn đá; + Nguyên lý lát, xếp; + Nguyên lý cấp phối; + Nguyên lý gia cố (bằng chất liên kết vô cơ, hữu cơ). -15- Xuất phát từ yêu cầu về cường độ và điều kiện khai thác, lựa chọn loại tầng mặt và vật liệu làm tầng mặt cho phù hợp: Bảng 1. Lựa chọn loại tầng mặt và vật liệu làm tầng mặt [1] Số trục xe tiêu Cấp thiết Thời chuẩn tích lũy kế đường hạn Loại tầng trong thời hạn (theo Vật liệu và cấu tạo tầng mặt thiết mặt thiết kế (trục TCVN kế xe tiêu 4054) (năm) chuẩn/làn) Bê tông nhựa chặt loại I hạt nhỏ, hạt trung làm lớp mặt Cấp I, II, III Cấp cao A1 trên; hạt trung, hạt thô (chặt 10 > 4.106 và cấp IV hoặc hở loại I hoặc loại II) làm lớp mặt dưới - Bê tông nhựa chặt loại II, đá 8-10 > 2.106 dăm đen và hỗn hợp nhựa nguội trên có láng nhựa Cấp III, IV > 1.106 Cấp cao A2 - Thấm nhập nhựa 5-8 và cấp V - Láng nhựa (cấp phối đá dăm, đá dăm tiêu chuẩn, đất đá gia 4-7 > 0.106 cố trên có láng nhựa) Cấp phối đá dăm, đá dăm nước, hoặc cấp phối thiên Cấp IV, V Cấp thấp B1 nhiên trên có lớp bảo vệ rời rạc 3-4 0,1.