Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Khái niệm của tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015). Theo đó, “tội phạm là hành vi nguy hiểm…phải bị xử lý hình sự”.
Khái niệm tội phạm phản ánh những đặc điểm cơ bản: tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi và phải xâm phạm đến các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ. Khái niệm tội trộm cắp tài sản: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý, được thực hiện bởi người có năng lực TNHS và đủ từ 14 tuổi trở lên, thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, thỏa mãn các dấu hiệu được quy định tại Điều 173 BLHS”. Để có cái nhìn rõ hơn về khái niệm tội trộm cắp tài sản thì chúng ta lần lượt đi vào phân tích các đặc điểm của tội phạm này. Cụ thể bao gồm các đặc điểm sau: Thứ nhất, hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách lén lút Đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của tội “trộm cắp tài sản” là hành vi “lén lút”, không có hành vi này thì không phải là trộm cắp.
Nếu một hành vi chiếm đoạt tài sản công khai đối với chủ sở hữu tài sản, người quản lý tài sản thì không thể coi đó là hành vi trộm cắp, mà hành vi trộm cắp phải được thực hiện một cách lén lút, vụng trộm đối với chủ sở hữu tài sản. Trong tội “trộm cắp tài sản”, hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản có đầy đủ các dấu hiệu này, thiếu một trong những dấu hiệu đó sẽ không thể hiện hết được bản chất của sự “lén lút”. Nói theo cách khác, “lén lút” là 8 thủ đoạn của một người cố ý thực hiện làm một việc sai trái, vụng trộm không để cho người khác biết, nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài sản của họ. Hành vi “lén lút” ở đây không nhất thiết là việc làm mà không ai biết, nó có thể được thực hiện một cách bí mật, vụng trộm, nhưng cũng có thể được thực hiện một cách công khai, ở nơi có nhiều người.
Thứ hai, bị hại mà tội phạm hướng đến để thực hiện hành vi trộm cắp Bị hại mà tội phạm hướng đến để thực hiện hành vi trộm cắp là chủ sở hữu và người quản lý tài sản. - Chủ sở hữu tài sản: theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Hay nói cách khác, chủ sở hữu là người có quyền: tự quản lý, nắm giữ, chi phối tài sản theo ý mình mà không bị hạn chế về thời gian; có quyền khai thác các lợi ích, giá trị của tài sản và quyết định về số phận của tài sản đó. - Người quản lý tài sản: là người đang nắm giữ hoặc trông coi tài sản, họ không phải là chủ sở hữu tài sản nên họ không có được đầy đủ ba quyền của chủ sở hữu.
Vì vậy, người quản lý tài sản không được định đoạt tài sản. Họ có thể được định đoạt tài sản trong phạm vi ủy quyền của chủ sở hữu. - Thứ ba, về thủ đoạn chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của người khác có thể dưới các hình thức: + Do lâm vào tình trạng không có khả năng để biết như: bị tai nạn ngất… + Không có mặt tại nơi để tài sản; + Thủ đoạn và phương pháp tinh vi của người phạm tội làm cho chủ tài sản không biết được việc mình bị mất tài sản. Thứ tư, đặc điểm về tài sản bị trộm cắp Theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015 quy định về tài sản theo hướng là một quy phạm định nghĩa: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Tuy nhiên, không phải tài sản nào cũng là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, mà chỉ những tài sản thuộc các trường hợp sau mới là đối tượng tác động của loại tội phạm này. Trước hết, tài sản là đối tượng tác động của tội “trộm cắp tài 9 sản” có đặc điểm sau: (1) Phải là một dạng vật chất cụ thể và tồn tại dưới dạng là một động sản; (2) Là tài sản có sự đầu tư sức lao động của con người; (3) Không phải là tài sản có tính năng đặc biệt (như: vũ khí quân dụng, ma túy .); (4) Là tài sản phải đang trong vòng kiểm soát của chủ sở hữu, người quản lý tài sản; (5) Là tài sản có giá trị hoặc giá trị sử dụng; (6) Tài sản chưa bị chủ tài sản từ bỏ quyền sở hữu. Các đặc điểm trên của tội trộm cắp tài sản là yêu cầu khi sửa đổi, bổ sung quy định về tội trộm cắp tài sản phải đảm bảo các nội dung này. Chẳng hạn, hành vi trộm cắp cây rừng chưa có sự đầu tư sức lao động của con người thì không cấu thành tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS năm 2015) 1.
Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khách thể của tội trộm cắp tài sản Theo quy định của pháp luật hình sự, khách thể trực tiếp của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu, mà không xâm phạm đến quan hệ nhân thân, đây cũng là một trong những điều khác biệt với các tội cướp giật tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản,. Đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản mà nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt. Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản - Hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút.
Trong đó, hành vi chiếm đoạt làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó. Tuy nhiên, chủ sở hữu không mất quyền sở hữu của mình mà chỉ mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể. Về thủ đoạn khách quan: Thủ đoạn của tội phạm này là thủ đoạn lén lút. Để chiếm đoạt được tài sản của người khác thì người phạm tội phải thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữa hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản với các tội có tính chất chiếm đoạt khác là tính lén lút. 10 Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trong tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách lén lút, nhưng tính lén lút của hành vi có thể chỉ che giấu đối với chủ sở hữu, người quản lý tài sản, còn đối với những người khác thì không cần che giấu. - Hành vi trộm cắp tài sản chỉ cấu thành tội phạm khi: + Chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000 đồng trở lên + Hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của BLHS chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; đ) Tài sản là di vật, cổ vật. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản Về yếu tố lỗi: Lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp.
Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác hoặc đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình khi thực hiện hành vi chiếm đoạt. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản Căn cứ theo Điều 12 và Điều 173 BLHS hiện hành ta có thể xác định được rằng: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản. Còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chỉ phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 và khoản 4 Điều 173 BLHS. Phân biệt tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam với một số tội chiếm đoạt tài sản khác.
Tội trộm cắp tài sản phân biệt với tội cướp giật tài sản 11 Tội cướp giật tài sản là hành vi mà người phạm tội thực hiện một cách công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác. Về mặt khách thể: Khách thể của tội trộm cắp tài sản là những quan hệ sở hữu, còn khách thể của tội cướp giật tài sản bao gồm các quan hệ sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân (khách thể bổ sung) Về mặt khách quan: Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi được thực hiện lén lút, kín đáo, che giấu nạn nhân và những người xung quanh. Còn tội cướp giật tài sản là hành vi công khai, nhanh chóng, gây bất ngờ cho nạn nhân và những người xung quanh.