Chương 1 Căn cứ tình hình thực tế hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định khái niệm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó tác giả đã nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về ma túy, chất ma túy, tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để đưa ra khái niệm về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” làm tài liệu tham khảo quy định trong luật; đồng thời phân tích những dấu hiệu pháp lí của tội tàng trữ trái phép chất ma túy giúp cho việc định tội danh và quyết định hình phạt được chính xác, khách quan. Bên cạnh đó, tác giả còn khái quát quá trình lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy để có cách nhìn khái quát, tổng hợp thấy được những kinh nghiệm gì trong quá trình lập pháp cần phải phát huy, kế thừa; những gì là hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới. 18 Chương 2 THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2012 - 2017 2. Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2017 2.
Nhận thức chung về định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy 2. Khái niệm về định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy Áp dụng pháp luật hình sự có nhiều nội dung trong đó có định tội danh, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng án treo, xóa án tích… Trong những nội dung trên thì định tội danh có ý nghĩa vô cùng quan trọng nó là bước đầu tiên để xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội thực tế đã xảy ra phạm tội gì trong BLHS, đồng thời định tội danh còn là cơ sở cho các nội dung khác trong áp dụng pháp luật hình sự. Do đó cần phải nghiên cứu khái niệm định tội danh là gì? Hiện nay trong lí luận luật hình sự có nhiều khái niệm khác nhau về định tội danh: Theo tác giả Lê Cảm, “Định tội danh là một quá trình nhận thức lí luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách – trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định” [4, tr. 19 Theo tác giả Nguyễn Kim Thanh, “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong phần các tội phạm BLHS quy định, cũng như các quy định khác trong BLHS có liên quan, qua đó làm tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của người phạm tội” [26, tr.
Tác giả Phan Thị Hồng Thắng đưa ra khái niệm“Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định, cũng như các quy định khác trong bộ luật hình sự có liên quan, qua đó làm tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của người phạm tội” [27, tr. Ba khái niệm trên khác nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung về nội dung là thống nhất, do đó theo tác giả có thể hiểu định tội danh là “việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [39, tr. Từ khái niệm “Định tội danh” nêu trên có thể đưa ra khái niệm “Định tội danh đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau: Định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác của hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng 20 xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy đã được thực hiện qua các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong vụ án với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã được quy định trong luật hình sự. Cơ sở pháp lí của định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy Cơ sở pháp lí của định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy là các văn bản quy phạm pháp luật hình sự như: BLHS, BLTTHS, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị định, Thông tư liên tịch và các văn bản chuyên ngành như Luật phòng, chống ma túy.
Trong đó BLHS là văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp phải viện dẫn, xem xét khi định tội danh. Bộ luật hình sự gồm 2 phần, phần những quy định chung và phần các tội phạm. Phần những quy định chung quy định về nhiệm vụ, nguyên tắc, các chế định cơ bản… Phần các tội phạm quy định từng loại tội phạm cụ thể tương ứng là hình phạt đối với loại tội phạm đó. Khi định tội danh phải xem xét cả phần những quy định chung và phần các tội phạm.
Các bước của quá trình định tội danh tội Tàng trữ trái phép chất ma túy trong hoạt động xét xử của tòa án: Định tội danh là một quá trình nhận thức khoa học, tư duy logic để đánh giá, xác định về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự, do đó đòi hỏi phải được tiến hành tuần tự theo từng bước và các bước này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua lí luận và hoạt động thực tiễn áp dụng BLHS, BLTTHS có thể định tội danh theo những bước sau: - Bước 1: Xác định chính xác, khách quan, toàn diện các tình tiết của vụ án đã xảy ra trong thực tiễn có dấu hiệu của tội phạm hay không? 21 Trong bước này đòi hỏi thẩm phán, hội thẩm nhân dân phải có hiểu biết pháp luật, có nghiệp vụ, có chuyên môn, kinh nghiệm và hiểu biết xã hội sâu sắc, bản lĩnh và cảm quan nghề nghiệp để đánh giá các tình tiết của vụ án đã xảy ra trong thực tiễn. Đây là bước đầu của định tội danh có ý nghĩa quan trọng đối với các bước tiếp theo của định tội danh. Trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học, toàn diện, thẩm phán và hội thẩm nhân dân xác định tình tiết của vụ án xảy ra trong thực tế có phải là tội phạm hay không?.
Nếu có dấu hiệu của tội phạm thì tiến hành bước tiếp theo là xác định tình tiết đó được quy định tại chương, điều, khoản nào của luật hình sự. Nếu không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc tuyên bố bị cáo vô tội. - Bước 2: Nhận thức thống nhất, chính xác các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam. Việc định tội danh bắt buộc phải tuân theo các quy định trong BLHS, tuy nhiên những dấu hiệu của cấu thành tội phạm quy định trong BLHS chỉ mang tính chất trừu tượng phản ánh những nét đặc trưng nhất trong khi thực tiễn đời sống xã hội muôn hình muôn vẻ, do đó để định tội danh đúng cần phải có nhận thức thống nhất và chính xác về các dấu hiệu của CTTP tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đặc biệt là khi BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định ghép trong Điều 194 “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”, danh giới để xác định một hành vi xảy ra trong thực tế là phạm tội gì, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hay chiếm đoạt là khó khăn. Ví dụ: A mua ma túy cất giữ để dùng dần đồng thời bán để xoay vòng kiếm lời mua ma túy sử dụng tiếp, khi bị bắt A chỉ khai nhận mua để dùng chứ không có hành vi mua bán nhưng trong thực tế thì có hành vi mua bán, giám định lượng ma túy dưới 0,1g nên không truy cứu TNHS. Trong khi tội mua bán trái phép chất ma túy chỉ quy định có hành vi mua bán mà không quy định về định lượng, từ đó cho thấy việc nhận thức các dấu hiệu của CTTP với hành vi thực tiễn xảy ra 22 trong đời sống là khó khăn, yêu cầu thẩm phán, hội thẩm nhân dân phải có nhận thức thống nhất, chính xác để đảm bảo nguyên tắc pháp chế. - Bước 3: So sánh, đối chiếu giữa tình tiết xảy ra trong thực tế qua các chứng cứ, tài liệu thu thập được của vụ án với các dấu hiệu quy định trong cấu thành tội phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định trong BLHS.
- Bước 4: Kết luận những tình tiết xảy ra trong thực tế có đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm không?