CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI I. Những vấn đề lý luận về tội giết người 1.1 Khái niệm tội giết người 1. Khái niệm tội phạm Theo quy định tại Điều 8 BLHS 2015 Việt Nam, hiện hành thì Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho XH được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thô tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự PL XHCN [24]. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi được quy định trong BLHS, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho XH mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là phạt tiền, phạt CTKGG hoặc phạt tù đến 3 năm; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hai lớn cho XH mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 3 năm đến 7 năm tù; Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho XH mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên bảy năm tù đến 15 năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc 12 n biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Mặc dù cac hành vi tuy có các dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho XH không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 xác định khái niệm tội phạm một cách rất khoa học, thể hiện tập trung nhất quan điểm của NN về tội phạm. Nó không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong việc phân các tội phạm của BLHS mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể.
Tại Điều 1 BLHS 2015 đã ghi nhận những quan hệ XH chung quan trọng nhất được BLHS của nước ta bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm thì Điều 8, khoản 1 đã cụ thể hóa những quan hệ XH đó thành những khách thể của tội phạm. Đó là: Độc lập, chủ quyền, thông nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn XH, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự PL XHCN. Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của luật Hình sự. Trong lịch sử có những quan niệm khác nhau về khái niệm tội phạm, cụ thể: Theo PL tư sản luôn nhấn mạnh tính hình thức của tội phạm, nghĩa là Tội phạm là hành vi bị BLHS cấm hoặc là vi phạm PL bị BLHS trừng trị (BLHS Pháp 1810) hoặc là hành vi do BLHS cấm bằng nguy cơ xử phạt (BLHS Thụy Sĩ năm 1937).
Do vđó, yếu tô luật Hình sự quy định, luật Hình sự cấm, luật Hình sự trừng trị là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Điều này hết sức nguy hiểm ở chỗ nhiều khi nó cho phép nhà làm luật đưa ý chí chủ quan của mình vào việc quy định hành vi nào là tội phạm. Tuy nhiên, yếu tố luật định của tội phạm mà BLHS tư sản đưa ra đã cho thấy được tiến bộ vượt bậc. So với BLHS phong kiến tránh được sự tùy tiện khi coi một hành vi nào đó là tội phạm.
Được quy định tội phạm luật 13 n Hình sự hay BLHS chỉ là dấu hiệu hình thức của tội phạm. Tội phạm còn được xác định thông qua dấu hiệu về mặt nội dung. Đó là: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho XH, nhưng khi đánh giá thế nào là nguy hiểm cho XH là vấn đề cần được làm sáng tỏ nếu không dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí khi quy định tội phạm. Các tiêu chí để xác định tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ tội phạm gồm: – Tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại – Hiệu quả do hành vi phạm tội gây ra – Tính chất và mức độ lỗi: các hình thức lỗi, các dạng lỗi, động cơ mục đích phạm tội… – Các yếu tố đặc trưng cho hành vi phạm tội như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ phạm tội.
Trong BLHS luôn quy định một trong những yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi đó là yếu tố nhân thân người phạm tội, cụ thể là việc người phạm tội có tiền án, tiền sự hay không có tiền án, tiền sự. Vấn đề này cho đến ngày nay vẫn đang tranh luận trong khoa học luật Hình sự. Bởi lẽ việc quy định yếu tố nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH, không phù hợp với nguyên tắc chung của BLHS, nghĩa là: 1 người không thể bị xử phạt hình sự do nhân thân xấu. Tội phạm còn được thể hiện thông qua dấu hiệu: Năng lực TNHS của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH.
Đây là đặc tính quan trọng không thể bỏ qua khi quy định khái niệm tội phạm. Năng lực TNHS thể hiện ở khả năng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH nhận thức và điểu được hành vi của mình. Điều đó cho thấy cho dù gây thiệt hại cho quan hệ XH nào đó nhưng nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm không nhận thức được hành vi, không điều khiển được hành vi thì hành vi đó không là hành vi tội phạm. Tính có lỗi: Tội phạm luôn là hành vi có lỗi, có trường hợp BLHS coi những hành vi không có lỗi là tội phạm.
Đây được gọi là nguyên tắc “quy tội 14 n khách quan” chỉ căn cứ vào hành vi để buộc tội trong khi tội phạm là tổng hợp các yếu tố chủ quan và khách quan. Yêu tố khách quan là các hành vi, yếu tố chủ quan là lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình và hậu quả đối với hành vi đó. Lỗi có một quá trình hình thành từ khi phát sinh những nhu cầu, xác định động cơ, mục đích, nhận thức các yếu tố chủ quan, khách quan của hành vi và cuối cùng là lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi.
Cho nên có thể dựa vào Điều 8 BLHS 2015 để đưa ra khái niệm tội phạm một cách khái quát: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho XH, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi được quy định trong luật hình sự. Hiện nay, trong khoa học luật Hình sự còn có ý kiến cho rằng tội phạm còn một dấu hiệu nữa là tính phải chịu hình phạt. Khoản 2 của Điều luật quy định: Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Ví dụ: Trộm cắp vặt, gây thương tích nhẹ, vô ý gây thiệt hại nhỏ nhặt v.v… Có dấu hiệu tội phạm tức là có đầy đủ 4 dấu hiệu của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi.
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất khiến nó không bị coi là tội phạm là tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể. Do vậy, theo học viên thì khái niệm về tội phạm được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Vì nội dung của khái niệm tội phạm là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải tội phạm, giữa TNHS và những trách nhiệm pháp lí khác. Khái niệm tội giết người Cho đến nay mặc dù đã trải qua 3 BLHS (1985, 1999 và 2015), các nhà làm luật vẫn chưa đưa ra được khái niệm cụ thể về tội phạm giết người, do vậy hiện tại có rất nhiều công trình nghiên cứu và rất nhiều nhà khoa học đưa ra các 15 n đánh giá, nhận định về khái niệm về tội giết người và người phạm tội giết người.
Trong đó Giáo sư, tiến sĩ Võ Khánh Vinh cho rằng tội phạm giết người là hành vi trái PL của người đủ năng năng lực TNHS cố ý tước đoạt quyền sống của người khác [24; tr. Có nhà khoa học lại ghi nhận: Giết người được hiểu là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái. Cũng có người lại đưa ra khái niệm: Giết người là hành vi cố ý tước đoạt TMNK một cách trái PL.là một hành vi vi phạm PL đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm trực tiếp đến TMNK bị XH kịch liệt lên án. Còn theo Điều 123 BLHS Việt Nam, hiện hành thì khái niệm TGN như sau: TGN là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái PL, do người có năng lực TNHS và từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện [24].
Còn theo cá nhân học viên, thì giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác 1 cách trái PL. Hành vi tước đoạt tính mạng người khác nghĩa là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của con người. Hậu quả của hành vi trái luật này là hậu quả chết người, TGN chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người; Còn trong trường hợp hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội được coi là tội giết người chưa đạt (khi có lỗi cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây thương tích (khi có lỗi cố ý gián tiếp). Mục đích và động cơ phạm tội không là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm TGN và được quy định là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt.