Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 1. Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Dựa trên khái niệm về tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS hiện hành và quy định của Điều 135 Bộ luật này, về mặt lý luận có thể hiểu tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh một cách đầy đủ là “hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định trong BLHS Điều 135 do người có năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người”. Từ khái niệm này cho thấy, là một trong những tội phạm do BLHS quy định, do vậy có những dấu hiệu chung của tội phạm, đồng thời cũng có những dấu hiệu giống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS.
Tuy nhiên, đây là một trường hợp cố ý thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, vì thế cũng có những dấu hiệu pháp lý khác với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này. Các dấu hiệu định tội. Các dấu hiệu định tội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản quy định tại Điều 135 BLHS.
Đây là mô hình pháp lý để định tội. Căn cứ vào quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam, tội phạm này có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cơ bản sau đây: - Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đã làm cho người phạm tội lâm vào tình trạng tinh thần bị kích động mạnh. Hành vi khách quan của tội phạm này chỉ có thể được thực hiện bằng hành động cụ thể như: đâm, chém, đấm, đá.v… Như vậy, hành vi khách quan của tội phạm này có hai loại: hành vi gây thương tích và hành vi gây tổn hại về sức khỏe. Hai hành vi này về cơ bản là giống nhau về phương tính thực hiện hành vi, nhưng khác nhau ở hậu quả của hành vi.
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội phạm này là hậu quả thương tích (hậu quả của hành vi gây thương tích) hoặc hậu quả tổn hại về sức khỏe (hậu quả của hành vi gây tổn hại về sức khỏe của người khác). Đối với hành vi gây thương tích thì hậu quả do hành vi gây ra phải để lại những thương tích trên cơ thể của người bị hại, còn đối với hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì không để lại thương tích mà chỉ có thể làm giảm đáng kể tình trạng sức khỏe của người bị hại. Theo quy định của pháp luật thì người có hành vi gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này trong trường 9 n hợp hành vi của họ đã gây ra hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, tỷ lệ tổn thương về cơ thể này được BLHS quy định là dấu hiệu bắt buộc để định tội. - Dấu hiệu chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 16 tuổi trở lên nhưng phải là người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân.
Theo quy định của Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phám TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS thì: “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình” [36, tr. Theo hướng dẫn này, thì trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái tâm lý căng thẳng, ức chế thần kinh, làm cho người ở trong trạng thái này không còn nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ thực hiện như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức mà điều khiển hành vi tức là chưa đến mức ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21 BLHS. Nguyên nhân gây ra trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở người phạm tội phải là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng ở đây có thể cấu thành tội phạm, có thể chưa hoặc không cấu thành tội phạm mà chỉ là những vi phạm pháp luật khác.
Song dù là trong trường hợp nào thì hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải ở mức độ nghiêm trọng. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể chỉ là một hành vi cụ thể, tức thời dẫn tới trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội. Nhưng cũng có trường hợp, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là chuỗi những hành vi cụ thể khác nhau diễn ra 10 n lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và liên tục tác động đến tinh thần của người phạm tội làm cho họ bị dồn nén về tâm lý đến cao độ và lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể đối với bản thân người phạm tội hoặc có thể đối với người thân thích của người phạm tội.
Ngoài ra theo Nghị quyết 04/HĐTPTANDTC ngày 28-29/11/1986 đã hướng dẫn và áp dụng một số quy định các tội phạm của Bộ luật Hình sự về trạng thái tinh thần bị kích động và hành vi trái pháp luật nghiêm trọng Giết người trong tình trạng bị kích động mạnh - do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó. Đây là khung hình phạt giảm nhẹ (khoản 3). - Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người.
Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, nhưng nói chung chưa đến mức là phạm tội. Nếu hành vi trái pháp luật đó trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội hoặc của xã 11 n hội, đã cấu thành tội phạm, thì hành vi chống trả lại gây chết người có thể được xem là trường hợp phòng vệ chính đáng (theo Điều 13) hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (theo Điều 102). Trong trường hợp cá biệt hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành tội phạm nhưng là tội phạm ít nghiêm trọng (như tội làm nhục người khác, tội vu khống) thì cũng được coi là giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh và được xử lý theo Điều 101, khoản 3.
Thí dụ: hai anh em đồng hao ở chung nhà bố mẹ vợ, người anh thường xuyên làm nhục thô bạo và trắng trợn vu khống người em, đến thời điểm nào đó lại lăng nhục người em nên người anh bị em giết. - Dấu hiệu lỗi của chủ thể: Lỗi của người phạm tội này có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng chủ yếu là cố ý gián tiếp. Trường hợp cố ý trực tiếp phạm tội này là trường hợp người phạm tội nhận thức được (tuy chưa đầy đủ) tính chất mức độ của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân, thấy được hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe ở mức độ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, nhưng vẫn mong muốn gây ra hậu quả này cho nạn nhân. Còn trường hợp cố ý gián tiếp phạm tội này là trường hợp người phạm tội nhận thức được tinh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, thấy được hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe ở mức độ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.
Khi xác định lỗi của người phạm tội này cần lưu ý: mức độ lỗi của chủ thể là hạn chế, bởi họ thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng khả năng nhận thức và điều khiển hành vi đều hạn chế, mặt khác tình trạng đó lại do chính nạn nhân gây ra. Các dấu hiệu định khung hình phạt. Ngoài những dấu hiệu định tội nêu trên, đối với tội phạm này, nhà làm luật còn quy định một số tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng, cụ thể là: - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% trở lên.