Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1. Những vấn đề lý luận về tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm tội chống người thi hành công vụ Đến nay, thuật ngữ “công vụ” còn gây nhiều tranh cãi, chưa có khái niệm thống nhất.
Theo cách hiểu chung nhất, “công vụ” là công việc vì lợi ích chung của Nhà nước. Một số văn bản pháp luật cũng đề cập đến thuật ngữ này như sau: Ngày 29/11/1986, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ có nội dung như sau: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện” [Mục 1, Chương 2]. Ta có thể thấy, quy định này được hiểu theo nghĩa rộng, không có việc giới hạn phạm vi trong lĩnh vực công vụ và không giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ. Đối với Luật cán bộ, công chức năm 2008 được quy định như sau: “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [22, Điều 2].
Quy định này đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng của công vụ và giới hạn phạm vi chủ thể của hoạt động công vụ. Công vụ là hoạt động được tiến hành trên cơ sở pháp luật để thực hiện công việc do Nhà nước giao. Do đó, tính tuân theo pháp luật là đặc điểm quan trọng nhất của 7 “công vụ”. Định nghĩa này cũng giới hạn phạm vi đối tượng là cán bộ, công chức.
Đối với Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ban hành năm 2017: Luật này không quy định trực tiếp về công vụ nhưng lại có nội dung xác định người thi hành công vụ. Nội dung như sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án” [21, Điều 3]. Quy định này đã giới hạn phạm vi lĩnh vực của công vụ là trong quản lý hành chính, tố tụng và trong thi hành án. Việc giới hạn phạm vi của công vụ chỉ trong ba lĩnh vực, gồm: quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án là hoàn toàn phù hợp.
Hoạt động quản lý nhà nước trong những lĩnh vực này thông qua các quyết định mang tính chất cá biệt, có tính chất mệnh lệnh - phục tùng và tác động tới từng cá nhân cụ thể. Cũng chính vì vậy, chủ thể của các hoạt động này cũng dễ bị các cá nhân tác động của công vụ chống lại, gây thiệt hại. Từ một số định nghĩa nêu trên, có thể thấy đặc điểm của công vụ là tính đúng pháp luật và được giới hạn trong phạm vi nhất định bao gồm giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ và giới hạn về phạm vi lĩnh vực của công vụ. Theo đó, công vụ phải là hoạt động quản lý nhà nước và phải thực hiện theo đúng pháp luật, tức là những hoạt động được thực hiện dựa trên quy định của pháp luật bao gồm pháp luật nội dung và pháp luật hình thức.
Phạm vi lĩnh vực của hoạt động công vụ được giới hạn trong ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Chủ đề của công vụ là người thuộc các cơ quan 8 Nhà nước hoặc được cơ quan Nhà nước giao quyền thực hiện những nhiệm vụ cụ thể. Với cách hiểu như vừa nêu ở trên về công vụ thì đặc điểm quan trọng nhất của công vụ là tính đúng pháp luật. Muốn được coi là công vụ thì hoạt động phải đúng pháp luật, đúng quy trình, thủ tục thực hiện đúng pháp luật và người thực hiện được giao thẩm quyền theo đúng pháp luật.
Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật được coi là một trong các nguyên tắc của hoạt động công vụ. Hoạt động không đúng pháp luật là hoạt động “làm trái công vụ” và rõ ràng không phải là công vụ. Như vậy, trong trường hợp người thi hành công vụ có hoạt động làm trái công vụ thì hành vi không được xem là hành vi thực hiện công vụ và dẫn đến thực hiện cũng không được coi là người thi hành công vụ. Việc xác định chính xác thế nào là hoạt động “công vụ” có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định dấu hiệu “người thi hành công vụ”.
Do chưa có khái niệm chưa thống nhất về “công vụ” nên khái niệm về “người thi hành công vụ” nên cũng chưa thống nhất về khái niệm “người thi hành công vụ” trong các văn bản pháp luật. Ngày 29/11/1986 Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS quy định như sau: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội”. Từ quy định trên, người thi hành công vụ là những người có chức vụ và quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội mà các cơ quan này thực hiện 9 chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc những công dân được huy động làm nhiệm vụ theo kế hoạch của các cơ quan có thẩm quyền. Đối với Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017 quy định như sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án” [21, Điều 3].
Theo Nghị định 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 được Chính phủ quy định về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi chống người thi hành công vụ xác định người thi hành công vụ “…là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội” [3, Điều 3]. Từ những khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ như sau: - Thứ nhất: Người thi hành công vụ là người được giao nhiệm vụ để thực hiện công vụ nhất định, tư cách pháp lý là điều kiện để cá nhân trở thành người thi hành công vụ và quyền hạn là cơ sở, điều kiện để thực hiện công vụ nhất định. Trong đó, quyền hạn được hiểu là quyền lực pháp lý của Nhà nước trong một phạm vi nhất định được trao cho các tổ chức, cá nhân để thực thi công vụ. Nói cách khác, đó là quyền đã được xác định về nội dung, mức độ và phải gắn liền với công việc được giao.
Quyền hạn này có thể phát sinh từ vị trí công tác thường xuyên của người thi hành công vụ và trên cơ sở phù hợp với công vụ cụ thể được giao thực hiện. Nếu công vụ được giao cho người thi 10 hành công vụ mà không kèm theo các quyền hạn thì sẽ có một số công vụ không được thực hiện và ngược lại khi có nhiều quyền hạn mà quá ít công vụ phải thựu hiện thì có thể xảy ra những trường hợp lạm quyền. - Thứ hai, người thi hành công vụ phải đang thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, nhất định. Một người được xác định là người thi hành công vụ không chỉ vì người đó có thẩm quyền trong việc thực hiện công vụ mà còn phải đang làm nhiệm vụ được giao.
Nội dung này chỉ khẳng định một người có thể là người thi hành công vụ vì họ có vị trí công tác có thẩm quyền tiến hành công vụ. Như vậy, người thi hành công vụ luôn gắn liền với công vụ cụ thể, việc xác định người thi hành công vụ đặt ra yêu cầu cần xác định sự tồn tại của một công vụ thực tế và công vụ đó đang thực hiện một cách đúng pháp luật bởi một chủ thể theo đúng thẩm quyền được giao. - Thứ ba, việc thực hiện công vụ của cá nhân phải theo đúng quy định của pháp luật. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của công vụ.
Người thi hành công vụ theo đúng nghĩa phải là người thực hiện hoạt động đúng pháp luật cả về nội dung, hình thức và thẩm quyền. Từ những nội dung được phân tích nêu trên, tác giả định nghĩa tội chống người thi hành công vụ như sau: Tội chống người thi hành công vụ là hành vi cố ý cản trở, gây khó khăn cho người thi hành công vụ trong khi người đó đang thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về hành chính, tố tụng và thi hành án. Từ định nghĩa này, có thể đưa ra một số đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ như sau: Thứ nhất, tội chống người thi hành công vụ xâm phạm hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính, tố tụng và thi hành án, xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, làm giảm hiệu quả quản lý của các 11 cơ quan này. Quan hệ xã hội bị tội chống người thi hành công vụ xâm hại là quan hệ liên quan trực tiếp đến các hoạt động “công vụ”, là hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.
Tội chống người thi hành công vụ xâm hại đến các quan hệ xã hội trên thông qua việc tác động trực tiếp đến người đang thi hành công vụ. Thứ hai, chủ thể của tội chống người thi hành công vụ phải đủ điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự (đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của luật và không thuộc trường hợp trong tình trạng mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển do mắc bệnh).