CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài Cây có múi có cấu tạo hoa lưỡng tính và là cây giao phấn nên các cây trồng từ hạt (cây thực sinh) có tính biến dị lớn thường không duy trì được những đặc tính của cây mẹ. Vì vậy trong quá trình sản xuất người nông dân ít khi nhân giống bằng phương pháp gieo hạt mà đa phần là nhân giống vô tính. Qua các quá trình di thực bằng nhân giống vô tính nhiều giống duy trì được một số đặc tính tốt của cây mẹ nơi nguyên sản, ngoài ra nó còn thể hiện một số đặc tính tốt hơn.
Các nhà chọn giống có kinh nghiệm chia phương pháp nhân giống vô tính thành 2 dạng khác nhau: + Dạng thứ nhất là những cây nhân giống vô tính bằng cách ghép, chiết cành, giâm cành, hoặc nuôi cấy invitro. Các thế hệ cây con này có cấu trúc di truyền của quần thể phức tạp, mức độ dị hợp cao, phân li mạnh khi sinh sản hữu tính nhưng cây con cơ bản mang đặc tính di truyền của cây mẹ (Hoàng Ngọc Thuận 2004) [29]. + Dạng thứ hai là những cây nhân giống vô tính có nguồn gốc phôi tâm và sinh sản vô phôi. Sự hình thành hạt vô tính có chứa các phôi tâm hoặc sinh sản vô phôi là đặc tính quan trọng của đa số các loài trong họ phụ cam quýt.
Đa số các loài cam quýt có thể cho ra các cây mọc từ hạt vô tính, có nguồn gốc từ các tế bào sôma phôi tâm. Mặc dù cây con phôi tâm trên cơ bản biểu hiện các đặc trưng của cây mẹ, nhưng có khả năng hình thành các dạng hình khác nhau, những biến đổi này có thể là các biến dị sôma do kết quả trao đổi chất của các giao tử đực và noãn mà thành, cũng có thể được hình thành trong quá trình dung hợp tế bào và do tác động của những điều kiện sinh thái (Hoàng Ngọc Thuận 2004, Trịnh Duy tiến 1999) [29] [23]. 5 Trong thực tiễn sản xuất đa số người nông dân sử dụng phương pháp triết cành và ghép cành để nhân giống cây có múi. Ở hầu hết các vườn ươm sản xuất kinh doanh cây giống họ cây có múi đều được nhân giống bằng kỹ thuật ghép cây.
Thông thường, các giống được dùng làm gốc ghép thường là gốc bưởi chua. Các cây ghép sinh trưởng nhanh, phát triển tốt và sớm ra hoa đậu quả. Đa số các cây con nhân giống bằng phương pháp này giữ được những đặc điểm của cây đầu dòng (Nguyễn Minh Châu 2005) [7]. Nguồn gốc, phân loại cây có múi 1.
Nguồn gốc Trên thế giới, cây có múi có lịch sử trồng trọt từ rất lâu đời. Cây có múi được trồng ở vùng Đông Nam châu Á cách đây khoảng 4.000 năm trước Công nguyên (Webber, 1967) [52]. Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt đang được trồng hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam châu Á. Tanaka (1979) đã vạch ra đường ranh giới vùng xuất xứ của giống thuộc chi Citrus từ phía Đông Ấn Độ (chân dãy Hymalaya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản….
Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục” đã ghi chép về phân loại và các giống ở Trung Quốc. Điều này cũng khẳng định thêm về nguồn gốc các giống cam chanh (Citrus sinensis Osbeck) và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc Tanaka. Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (Citrus nobilis Lour) là ở miền Nam Việt Nam. Thực tế ở Việt Nam ta từ bắc chí nam ở vùng nào cũng có trồng cam sành với nhiều vật liệu giống với các tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có như: cam sành Bố Hạ, cam sành Hàm Yên, Yên Bái, Cam sen Yên Bái, Cam sen Đình Cả - Bắc Sơn, cam bù Hà Tĩnh… (Trần Thế Tục, 1998) [31].
6 Nguồn gốc bưởi trùm là ở tây Ấn Độ, còn nguồn gốc của bưởi thì ở Malaisia (theo Chawalit Nigomdhnm 1992). Sau đó được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, miền nam nước Nhật, tây Ấn Độ, Địa Trung Hải, Mỹ. Theo Tôn Thất Trình (1995) bưởi có nguồn gốc ở Ấn Độ. Như vậy các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về nguồn gốc thấy rằng: Bưởi có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á thuộc vùng khí hậu nhiệt đới và Á nhiệt đới nóng.
Giống cam Washington navel là có nguồn gốc từ Bahia, Brazil và có thể là đột biến của giống cam ngọt “Seleta” được nhập nội vào Úc năm 1824, ở Florida (Mỹ) năm 1835, California năm 1870 và từ Washington D.HK and Dele E. Phân loại Vấn đề phân loại cam quýt được nhiều tác giả nghiên cứu trong nhiều thời kì khác nhau. Đầu tiên là Lines (1753) đã sắp xếp và đưa giống Citrus vào hệ thống thực vật học và chia thành 2 loài Citrus medica (L) và Citrus aurantium (L). Sau đó là Gallenzio (1811), Dekaedol (1824), Bona Via (1888-1890), Engle (1897), Swingle (1911 - 1916), Markovie (1921), Tanaka (1927 - 1932), Luxe (1929- 1941), Dzukovskii (1971) và nhiều tác giả khác.
Trên thế giới hiện nay người ta sử dụng các hệ thống phân loại của Swingle, Tanaka và Hogdson. Trong hệ thống phân loại công bố năm 1943 trong tác phẩm “ Citrus industry” Swingle chia cam quýt ra làm 16 loài. Tanaka chia thành 144 loài, còn Dzukovskii chia thành 157 loài (1971). Nhà nghiên cứu cam quýt người Mỹ Hogdson, trên cơ sở phân tích, phê phán cả 2 hệ thống phân loại, tạo ra một hệ thống phân loại mới bao gồm 16 loài từ hệ thống của Swingle và hơn 20 loài từ hệ thống của Tanaka (Hoàng Ngọc Thuận 2004), (Trần Thế Tục và cs, 1998) [29] [31].
7 Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: vòng di thực và khả năng thích ứng rộng, có rất nhiều giống (Cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids), hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt. Cam quýt thuộc bộ cam quýt (Rutales), họ cam quýt (Rutaceae), được phân chia làm 130 giống (genera) với những đặc điểm chung như cây có mang tuyến dầu (chủ yếu phân bố ở lá), bầu lọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả thảo gồm 2 hay nhiều noãn bên trong, 130 giống này nằm trong họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ hoa hồng (Aurantirideae) là có ý nghĩa nhất. Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc Citereae (28 giống) và tộc phụ Citrnae (13 giống), 3 nhóm: “tiền cam quýt”, “gần cam quýt”, và nhóm “cam quýt thực sự” (True Citrus group) được phân bố từ Citreace và tộc phụ Citrnae (Trần Như Ý, Đào Thanh Vân, 2000) [34]. Cam quýt gồm 100 đến 160 loài (Specias) khác nhau, Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống (Cultivars) cam quýt quả trong quá trình trồng trọt đã biến dị trở thành giống mới.
Ông quan sát ghi chép tỷ mỉ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị này và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới có tên khoa học với tên khoa học được bắt đầu bằng tên giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulturre. Tanaka, Swingle đã phân chia cam quýt ra thành 16 loài tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng giống. Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm True Citrus group và nhóm con lai được liệt kê ở bảng bảng sau và một số nhóm con lai phổ biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, có thể được mô tả như sau (Vũ Công Hậu, 2000; Đường Hồng Dật 2003) [17] [12].1: Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Tên tiếng STT Tên loài Tên tiếng anh việt 1 C.sisnensis Osbeck Sweets Orange Cam ngọt 2 C.aurantium L Sour Orange Cam chua 3 C.reticulata Blanco Mandarin Quýt 4 C.limon Osbreck Lemon Chanh núm 5 C.medica L Citron Chanh yên C.aurantifolia Chanh vỏ 6 Lime Swingle mỏng 7 C.trifolia L Trioliate Chanh đắng 8 C.grandis L Shadock Bưởi 9 C.paradishi L Pomelo Bưởi chùm C.fortunenna 10 Kumquat Quất Swingle 1. Đặc điểm thực vật 1.
Bộ rễ Nhìn chung, cam quýt có bộ rễ ăn nông. Ekimop (Nga) thì biểu bì của rễ non có nấm cộng sinh. Nấm có tác dụng tốt cho rễ cam quýt như vai trò của lông hút với các cây trồng khác. Sự phân bố của rễ cam quýt phụ thuộc vào đặc tính của giống, mực nước ngầm, chế độ canh tác, chăm bón, nhưng nhìn chung rễ cam quýt ăn nông từ 0 - 30cm.
Bộ rễ cam quýt hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ (Trần Như Ý, Đào Thanh Vân, 2000) [34]: - Trước khi ra cành xuân (từ tháng 2 đến tháng 3) 9 - Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc cành hè xuất hiện (từ tháng 6 đến tháng 8) - Sau khi cành mùa thu đã sung sức (khoảng tháng 10) 1. Thân, cành, lá - Thân, cành: cam quýt có đặc điểm là (tự rụng ngọn) sau khi cành phát triển đến mức nhất định thì ngừng lại lúc đó ngọn và có khi cả 1 - 2 mầm phía dưới sẽ rụng đi hiện tượng này liên tục xảy ra trong các đợt lộc làm cho cam quýt không có thân chính rõ rệt, cành lá rậm rạp, đây là cơ sở cho việc cắt tỉa hàng năm. Một năm cam quýt ra nhiều đợt cành + Cành xuân ra vào tháng 2, 3, 4 là cành mang hoa và quả, cành thường ngắn, mật độ lá dầy thích hợp để lấy mắt ghép, ghép vào vụ thu. + Cành hè được mọc ra từ cành xuân cùng năm thường ra vào tháng 5 - 7 là cành dài nhất, cành có mật độ lá thưa và to.
+ Cành thu: ra vào tháng 8, 9 phát sinh ra chủ yếu từ cành xuân và cành hè cùng năm. + Cành đông: ra vào tháng 11 - 12 thường sinh ra trên cành quả vô hiệu cành đông là cành yếu nhất trên các loại cành. Cành cam quýt được phân chia làm 3 loại: + Cành mẹ: Là cành sinh ra cành quả. Nó có thể là cành xuân, hè, thu năm trước.
Qua theo dõi cho thấy tuỳ theo giống, thường cành thu hoặc cành hè làm cành mẹ thì số cành quả nhiều và tỷ lệ đậu quả cao. + Cành dinh dưỡng: Cành không ra hoa, quả, chỉ có lá xanh, có nhiệm vụ là quang hợp, thực ra giữa cành mẹ và cành dinh dưỡng không có giới hạn rõ, năm nay là cành dinh dưỡng, sang năm có thể là cành mẹ.