CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tổng quan nghiên cứu về sáng tạo ở nước ngoài Ngay từ giữa thế kỷ XX, các nhà tâm lý học Mỹ đã nghiên cứu khá cơ bản và hệ thống về khả năng sáng tạo của con người từ tuổi thơ đến tuổi trưởng thành. Sự kiện Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ đầu tiên của loài người có mang theo nhà du hành vũ trụ Nga Gagarin lên không gian vào đầu thập kỷ 60 đã biến những thập kỷ còn lại của thế kỷ XX thành những thập kỷ sôi động của tâm lý học tập trung nghiên cứu về tính sáng tạo11.
Năm 1954, tại Buffalo, bang New York, Alex Osborn, tác giả của phương pháp công não thành lập Tổ chức giáo dục sáng tạo (Creative Education Foundation – CEF). Năm 1967, thông qua các hoạt động của Osborn, tại đại học Buffalo, Trung tâm nghiên cứu sáng tạo (Center for Studies in Creativity – CSC) được thành lập. Hiện nay, Mỹ là nước có số lượng các nhà chuyên môn, trung tâm, công ty, tổ chức, đại học hoạt động nghiên cứu về sáng tạo và đổi mới nhiều nhất trên thế giới12. * Các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về sáng tạo Có thể nói nghiên cứu về sáng tạo một cách có hệ thống được bắt đầu vào năm 1950.
Người có công lớn là nhà tâm lý học Mỹ Guilford. Ông đưa ra mô hình phân định cấu tạo trí tuệ gồm 2 khối cơ bản: trí thông minh và sáng tạo. Ông là người đầu tiên đưa ra các khái niệm: tư duy hội tụ và tư duy phân kỳ. Đây là kiểu tư duy của người sáng tạo.
Ông xem sáng tạo là một thuộc tính của tư duy, là một phẩm chất của quá trình tư duy và nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo: thậm chí sáng tạo là chỉ báo quan trọng hơn là trí thông minh về năng khiếu, tiềm năng của một người (Guilford J. Ở giai đoạn này, tiếp tục có những nghiên cứu vấn đề sáng tạo với các tên tuổi lớn như: Holland (1959), May (1961), Mackinnon D. và một số tác giả người Mỹ như: Barron (1952, 1955, 1981, 1995), Getzels (1962, 1975),. Nội dung của các nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới một số vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo như: tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, sự khác biệt giữa sáng tạo và không sáng tạo, bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo, vấn đề phát triển năng lực sáng tạo và kích thích hoạt động sáng tạo, những thuộc tính nhân cách của hoạt động sáng tạo, linh tính, trí tưởng tượng, tính ì tâm lý,…trong quá trình sáng tạo14.
Các nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn như Sternberg và Lubart (1996)15, đã kết hợp cả phương pháp tiếp cận lấy con người làm trung tâm và phương pháp tiếp cận lấy văn bản làm trung tâm. Phù hợp với các lý thuyết khác nhau về sự sáng tạo (ví dụ, 11 Nguyễn Công Khanh (2007), Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài Nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh viên, Đại học Quốc gia Hà Nội, ĐHQGHN, Hà Nội 12 Phạm Thành Nghị (2012), Giáo trình Tâm lý học sáng tạo, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội 13 Guildford, J. (1967) “Intellectual factors in productive thinking”. In: Explorations in Creativity.
Phát triển một yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học. Luận án tiến sĩ Khoa học Giáo dục, 22-48. Investing in creativity. 5 Rubenson & Runco (1992); Runco (2007); Wahlberg (1988) các lý thuyết không kinh tế có nguồn gốc lỏng lẻo, Sternberg và Lubart (1991, 1992,1995) đã xây dựng lý thuyết cho sự sáng tạo để giải thích tại sao một số người lại sáng tạo hơn những người khác.
Nghiên cứu của Getzels và Jackson (1962)16 về mối quan hệ giữa trí sáng tạo và trí thông minh, sử dụng test DPT của Guilford đánh giá và so sánh giữa học sinh vừa có IQ, và CQ cao với học sinh có CQ cao nhưng IQ lại thấp. Nghiên cứu cho thấy học sinh thông minh cao, mặc dù họ chứng tỏ thành tích học tập giống như học sinh sáng tạo cao, nhưng họ lại được giáo viên ưu ái hơn. Học sinh sáng tạo cao thường chịu thiệt thòi trong đánh giá bằng test thông minh và hay bị trừng phạt vì những hành vi sáng tạo của họ. Torrance (1962)17 và Herr và các cộng sự (1965)18 đã tiến hành nghiên cứu cho rằng: trẻ sáng tạo thường bị hạn chế tính thích ứng cao của chúng.
Chúng luôn phải đương đầu với quyết định hoặc phải chấp nhận môi trường xung quanh nó hoặc giữ vững tính độc đáo của mình vốn bị xung quanh từ chối, thậm chí tẩy chay. Nhóm nghiên cứu của Calvin Taylor (1963) cũng quả quyết rằng tính sáng tạo và trí thông minh có sự tương hợp với nhau thấp, hệt như tính sáng tạo của học sinh và điểm số học tập mà giáo viên dạy cho họ vậy. Điều này có nghĩa là sự đánh giá của giáo viên về thành tích học tập khác cách tiếp cận đo lường tính sáng tạo của học sinh19. Amabile và các cộng sự của mình (1986) đã xem xét tác động của phần thưởng đối với sự sáng tạo của trẻ em và người lớn.
Giả thuyết ban đầu được đưa ra là việc thực hiện một hoạt động để nhận phần thưởng sẽ có tác động tiêu cực đến sự sáng tạo, nhưng không nhận được phần thưởng hoặc chỉ phần thưởng một cách bất ngờ thì sẽ không có tác động tiêu cực như vậy. Và điều này được khái quát mạnh mẽ trên nhiều loại đối tượng khác nhau, ở bất kì hoạt động nào được thực hiện hay loại phần thưởng nào được áp dụng20. Nghiên cứu của Aranguren, M. (2012) tập trung vào việc thiết kế và phân tích sơ bộ các thuộc tính đo lường tâm lý của thang đánh giá khả năng sáng tạo trong các lĩnh vực khác nhau và sáng tạo hàng ngày.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê đối với chỉ số sáng tạo trung bình giữa những cá nhân theo đuổi hoạt động nghệ thuật cao hơn những người không theo đuổi21. (2003) đã phân tích tổng hợp hai nghiên cứu, được thực hiện trên các mẫu trẻ có IQ cao, đã chứng minh rằng những người đạt được thành tích sáng tạo cao trong suốt cuộc đời có điểm LI (latent inhibition: sự ức chế tiềm ẩn) thấp hơn đáng 16 Getzels J. and Jackson P (1962), Creativity and intelligence: Explorations with gifted students, New York. Guiding creative talent.
Prentice Hall, Inc 18 Herr, E. Creativity, intelligence, and values: A study of relationships.Keith Sawyer (2012) (Eds), Explaining Creativity: The Science of Human Innovation, Oxford University Press, Second Edition. Amabile, Beth Ann Hennessey, and Barbara S. Grossman (1986) Social Influences on Creativity: The Effects of Contracted-for Reward.
Journal of Personality and Social Psychology, 50(1), 14-23 21 Aranguren, M. A scale for the evaluation of Creativity Behavior in different domains: Development and design. Ciencias Psicológicas, 6(1), 29-41 as cited in Agustín Freiberg-Hoffmann, Carlos Vigh, and Mercedes Fernández-Liporace (Eds), "Creative Personality Scale. A new version for college students from Argentina", Annals of psychology 2019, 35(2), 290-299 6 kể so với những người đạt được mức độ sáng tạo thấp.
Những người đạt thành tích sáng tạo nổi tiếng (những người tham gia dưới 21 tuổi đã báo cáo điểm cao bất thường trong một lĩnh vực thành tích sáng tạo) có khả năng có điểm LI thấp hơn là cao gấp 7 lần22. (2011) nghiên cứu theo thời gian sự phát triển năng lực sáng tạo của bản thân trong bối cảnh công việc diễn ra như bình thường. Kết quả cho thấy sự gia tăng về nhận dạng vai trò sáng tạo của nhân viên và nhận thức được kỳ vọng sáng tạo từ người giám sát trong khoảng thời gian 6 tháng có liên quan đến việc nâng cao ý thức năng lực làm việc sáng tạo của nhân viên. Còn những người trải qua yêu cầu ngày càng cao về tính sáng tạo trong công việc thì cho biết hiệu quả đối với công việc sáng tạo bị giảm sút.
Kết quả cho thấy sự gia tăng hiệu quả tự sáng tạo tương ứng với sự gia tăng hiệu suất sáng tạo23. * Các công trình nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu và công cụ đánh giá sáng tạo K.Urban & Jellen (1995)24 đã thiết kế Bài kiểm tra Tư duy Sáng tạo thông qua các bản vẽ TSD-Z. Bài kiểm tra được thiết kế để phản ánh một khái niệm sáng tạo toàn diện hơn so với các bài kiểm tra tư duy phân kỳ theo định hướng định lượng và truyền thống. Bài kiểm tra đã được chuẩn hóa với nhiều nhóm tuổi và khả năng khác nhau và không có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ.
Bài kiểm tra này được sử dụng ở rất nhiều quốc gia khác nhau, có thể kể đến ở các nghiên cứu của Ben-Michael (1991) ở Hà Lan, Goves-Jacka (1990) ở Úc, Posay Krishna (1989) ở Thái Lan. Li-fang Zhang và Robert J. Sternberg (2011) đã tiến hành một nghiên cứu này tiếp tục xem xét lý thuyết đầu tư về sáng tạo của Sternberg và Lubart (1995) bằng cách thử nghiệm Đánh giá nhiều mặt về sự sáng tạo (MAC) mới được xây dựng. Hai hình thức MAC được thực hiện cho 270 (120 nam và 150 nữ) sinh viên đại học Trung Quốc.
Nhìn chung, kết quả hỗ trợ mạnh mẽ cho lý thuyết của sự sáng tạo25. Bill Lucas và các cộng sự của mình (2012) đã thực hiện nghiên cứu nhằm thiết lập khả năng tạo ra một khung đánh giá để theo dõi sự phát triển khả năng sáng tạo của thanh niên trong trường học. Sau khi xem xét các tài liệu về tính sáng tạo và đánh giá của nó, đồng thời tham khảo ý kiến của các chuyên gia thực hành, CRL đã tạo ra một khuôn khổ để phát triển khả năng sáng tạo trong trường học và đưa ra một công cụ đánh giá để thử nghiệm trong trường học26. * Các công trình nghiên cứu về các biện pháp tăng cường sáng tạo Geissler Gary L.
và cộng sự của mình (2012) đã điều chỉnh thành công hệ thống 22 Carson, S. Decreased latent inhibition is associated with increased creative achievement in high functioning individuals. Journal of Personality and Social Psychology, 85, 499–506 23 Tierney, P. Creative self-efficacy development and creative performance over time.
Journal of Applied Psychology, 96(2), 277–293. Der TSD-Z: Test zum schöpferischen Denken - zeichnerisch. Universität Hannover, Arbeitsstelle HEFE, Paper 6 as cited in Klaus K. Sternberg, Li-fang Zhang (2011), Revisiting the Investment Theory of Creativity, Creativity Research Journal, 23(3), 229–238 26 Bill Lucas, Guy Claxton and Ellen Spencer (2012), Progression in Creativity: Developing new forms of assessment, Centre for Real-World Learning, The University of Winchester, England 7 Six Thinking Hats® trong một số khóa học tiếp thị để nâng cao tư duy phản biện cũng như sự sáng tạo và kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.