Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp tại Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn đã có những chuyển biến rõ rệt về cơ cấu tổ chức sản xuất. Mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ tại nông hộ đang dần thu hẹp, nhường chỗ cho các hệ thống trang trại chăn nuôi tập trung quy mô vừa và lớn nhằm nâng cao năng suất và chất lượng đàn giống. Tuy nhiên, phương thức nuôi thâm canh mật độ cao cũng đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng về an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và bệnh ký sinh trùng, các bệnh lý sản khoa trên đàn lợn nái sinh sản là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm hiệu quả kinh tế của các cơ sở chăn nuôi.
Trong số các bệnh sản khoa, viêm tử cung là bệnh lý phổ biến và gây thiệt hại nặng nề nhất. Bệnh do nhiều vi khuẩn cơ hội xâm nhập và gây hại như Escherichia coli, Streptococcus, Staphylococcus... Bệnh gây ra các biến chứng nguy hiểm như sảy thai, thai chết lưu, đẻ khó, làm lợn nái sốt, mất sữa hoặc giảm tiết sữa khiến đàn lợn con theo mẹ thiếu dinh dưỡng, còi cọc và tỷ lệ sống sót thấp. Đồng thời, viêm nhiễm đường sinh dục làm tổn thương niêm mạc tử cung, khiến nái chậm động dục trở lại, phối giống nhiều lần không thụ thai hoặc mất hoàn toàn khả năng sinh sản, dẫn đến việc phải loại thải sớm đàn nái giống.
Xuất phát từ thực tế sản xuất tại Trại lợn của Công ty TNHH Phú Kỳ (xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình), đề tài "Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của Công ty TNHH Phú Kỳ - xã Ngọc Lương - huyện Yên Thủy - tỉnh Hòa Bình và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh" được thực hiện với các mục đích:
- Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại cơ sở chăn nuôi.
- Thử nghiệm và so sánh hiệu quả điều trị của hai phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:
- Xác định tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái tại trại theo mức độ bệnh, theo lứa đẻ và thời gian theo dõi.
- Xác định những biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh viêm tử cung trên đàn nái.
- Xác định hiệu lực điều trị và độ an toàn của một số loại thuốc kháng sinh và thuốc sát trùng dùng trong điều trị bệnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản, đặc biệt là các cá thể lợn nái mắc bệnh viêm tử cung sau khi sinh tại trại.
- Phạm vi không gian: Trại lợn nái của Công ty TNHH Phú Kỳ, đóng tại địa bàn xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập số liệu và theo dõi thực nghiệm từ ngày 02/3/2015 đến ngày 24/5/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên các kiến thức chuyên ngành về giải phẫu, sinh lý sinh dục gia súc cái và cơ chế bệnh sinh học sản khoa thú y. Cơ quan sinh dục lợn nái gồm các bộ phận bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và các bộ phận bên trong (âm đạo dài 10 - 12 cm; cổ tử cung dài 10 - 18 cm có cấu tạo gờ thịt tròn cài răng lược khép kín; thân tử cung ngắn 3 - 5 cm; hai sừng tử cung dài 0,5 - 1 m uốn cong; ống dẫn trứng và buồng trứng dài 1,5 - 2,5 cm). Về mặt sinh lý, chu kỳ động dục ở lợn kéo dài trung bình 21 ngày (biến động 18 - 25 ngày), thời gian mang thai trung bình 114 ngày (dao động 113 - 115 ngày), thời gian cai sữa lợn con tập trung ở 21 ngày tuổi và nái động dục lại sau cai sữa từ 5 - 12 ngày. Bệnh viêm tử cung được phân loại thành bốn thể chính: viêm cổ tử cung (Cervitis), viêm nội mạc tử cung (Endometritis - gồm thể cata cấp tính có mủ và thể màng giả), viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis) và viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis).
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra dịch tễ và thử nghiệm lâm sàng đối chứng:
- Phương pháp điều tra, theo dõi lâm sàng: Giám sát toàn bộ đàn nái sau đẻ, đo thân nhiệt bằng nhiệt kế thú y qua trực tràng (chuẩn sinh lý bình thường 38,5 - 39,5°C), đếm tần số hô hấp qua nhịp thở ở thành ngực (chuẩn sinh lý bình thường 8 - 18 lần/phút), và quan sát các biến đổi bệnh lý của dịch viêm thoát ra từ âm hộ (màu sắc, độ nhày, mùi hôi thối, sự hiện diện của dịch mủ hay tổ chức hoại tử).
- Nguồn dữ liệu: Số liệu quản lý đàn nái năm 2014 và năm 2015 do Trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ cung cấp; dữ liệu kiểm tra trực tiếp trên 300 lợn nái sau đẻ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015; số liệu theo dõi 37 cá thể nái mắc bệnh được đưa vào điều trị thử nghiệm.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị: Phân loại 37 lợn nái mắc bệnh thành 3 mức độ (thể nhẹ, thể vừa, thể nặng) và phân bổ vào 2 phác đồ điều trị:
- Phác đồ 1 (21 con): Tiêm bắp Vetrimoxin (thành phần Amoxycilin 200 g/100 ml) liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày; kết hợp thụt rửa tử cung bằng dung dịch Biocid - 30 pha tỷ lệ 1/2000 (thể tích 1000 - 2000 ml/con), sau 30 phút bơm trực tiếp hỗn hợp kháng sinh Penicilin (1 triệu UI) + Streptomycin (1 g) hòa tan trong 50 ml nước cất vào xoang tử cung.
- Phác đồ 2 (16 con): Tiêm bắp Tylo - Genta (thành phần Tylosin tartrate 100 g + Gentamycin sunfata 50 mg) liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày; quy trình thụt rửa tử cung bằng Biocid - 30 và bơm Penicilin - Streptomycin thực hiện tương tự Phác đồ 1.
- Cả hai phác đồ đều kết hợp tiêm bắp thuốc trợ lực: Vitamin B1, Vitamin B12 và Vitamin C.
- Xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tổng hợp và phân tích thống kê mô tả (tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian điều trị trung bình) bằng phần mềm Microsoft Excel 2007.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài gắn liền với sự chuyển dịch mô hình chăn nuôi lợn trang trại và những rủi ro do dịch bệnh sản khoa gây ra. Khóa luận nêu rõ tác hại của bệnh viêm tử cung đối với chu kỳ sinh sản, năng suất sữa của nái và sự phát triển của đàn lợn con. Đồng thời, chương này xác định rõ mục đích, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi thời gian, địa điểm và ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu về bệnh lý và lựa chọn phác đồ điều trị an toàn, tiết kiệm chi phí cho cơ sở chăn nuôi.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
- Trình bày chi tiết đặc điểm giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục gia súc cái, các chỉ số lâm sàng sinh lý bình thường (thân nhiệt 38,5 - 39,5°C; tần số hô hấp 8 - 18 lần/phút) và hiện tượng sốt.
- Phân tích cơ chế bệnh sinh của phản ứng viêm tại mô bào, hậu quả rối loạn tuần hoàn, tích tụ dịch rỉ viêm và tăng sinh bạch cầu.
- Mô tả bệnh học các thể viêm tử cung: viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ, viêm nội mạc tử cung màng giả, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung; đồng thời điểm qua các bệnh liên quan như viêm âm đạo, viêm buồng trứng, thể vàng tồn tại.
- Phân tích nguyên nhân gây bệnh: can thiệp đẻ khó không đúng kỹ thuật, vệ sinh chuồng nuôi kém, nhiễm trùng dụng cụ thụ tinh, mất cân đối dinh dưỡng (thừa tinh bột, thiếu vitamin A) và yếu tố tiểu khí hậu.
- Trình bày đặc tính dược lý của các hóa chất và thuốc sử dụng: dung dịch sát trùng Biocid - 30 (chứa 3% I-ốt) với lưu ý pha đúng nồng độ 1/2000 tránh gây bỏng niêm mạc; kháng sinh Vetrimoxin, Tylo - Genta, Penicilin và Streptomycin.
- Điểm luận tình hình nghiên cứu: Dẫn chứng các kết quả nghiên cứu trong nước (Phùng Thị Vân, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh ghi nhận tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ chiếm từ 25,48% trên nái thuần đến 50,84% trên nái lai) và kết quả nghiên cứu ngoài nước (Madec tại Pháp ghi nhận tỷ lệ viêm tử cung từ 15% đến 26%, Kaminski tại Đức ghi nhận 16%).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại Trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ từ ngày 02/3/2015 đến ngày 24/5/2015. Tác giả thiết lập hệ thống chỉ tiêu theo dõi gồm: quy mô đàn nái qua hai năm 2014 - 2015; tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung chung; tỷ lệ mắc theo mức độ bệnh (nhẹ, trung bình, nặng); tỷ lệ mắc theo lứa đẻ (lứa 1, lứa 2, lứa 3); các chỉ số lâm sàng (thân nhiệt, tần số hô hấp, tính chất dịch viêm); và kết quả điều trị thử nghiệm.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị được thiết lập chi tiết theo bảng sau:
| Phương pháp |
Thuốc điều trị |
Cách dùng |
Liều lượng |
Thể mắc bệnh |
Số con điều trị |
| Phác đồ 1 |
Vetrimoxin |
Tiêm bắp |
1 ml/10 - 15 kg TT |
Thể nhẹ |
12 |
| Phác đồ 2 |
Tylo - Genta |
Tiêm bắp |
1 ml/10 - 15 kg TT |
Thể nhẹ |
7 |
| Phác đồ 1 |
Vetrimoxin |
Tiêm bắp |
1 ml/10 - 15 kg TT |
Thể vừa |
6 |
| Phác đồ 2 |
Tylo - Genta |
Tiêm bắp |
1 ml/10 - 15 kg TT |
Thể vừa |
6 |
| Phác đồ 1 |
Vetrimoxin |
Tiêm bắp |
1 ml/10 - 15 kg TT |
Thể nặng |
3 |
| Phác đồ 2 |
Tylo - Genta |
Tiêm bắp |
1 ml/10 - 15 kg TT |
Thể nặng |
3 |
| Tổng số |
Phác đồ 1: 21 con |
|
|
Phác đồ 2: 16 con |
37 |
Phần 4: Kết quả đạt được
Nội dung chương trình bày hai hợp phần lớn: kết quả công tác phục vụ sản xuất và kết quả nghiên cứu chuyên đề.
- Công tác phục vụ sản xuất:
- Trình bày quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa bằng cám 566 SF và 567 SF theo từng tuần tuổi thai; quy trình giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ 3 ngày (giảm 0,5 kg/ngày xuống còn 1 kg/ngày nhằm tránh chèn ép trực tràng).
- Kỹ thuật nuôi dưỡng đàn lợn con: tập cho ăn sớm từ 4 - 6 ngày tuổi bằng cám 550 SF, cai sữa sớm ở 21 ngày tuổi; quy trình cắt rốn, mài nanh, tiêm sắt (ngày thứ 2 - 3), phòng cầu trùng (ngày 3 - 4) và tiêm phòng dịch tả (ngày 16 - 18).
- Công tác vệ sinh thú y: Phun tiêu độc chuồng trại bằng Omicide (tỷ lệ 1:1200) hai lần mỗi ngày; ngâm tẩy tấm đan chuồng đẻ bằng dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày và phun sát trùng khung chuồng bằng NaOH 3%.
- Thực hiện lịch tiêm phòng vaccine nghiêm ngặt: tiêm Parvo phòng khô thai (tuần 25, 29); Coglapest phòng dịch tả (tuần 27 và lúc nái chửa 10 tuần); Begonia phòng giả dại (tuần 28); Aftopor phòng lở mồm long móng (tuần 28 và lúc nái chửa 12 tuần).
- Tham gia chẩn đoán và điều trị nhiều chứng bệnh nội - ngoại sản khoa: điều trị tiêu chảy lợn con (45/45 con khỏi, 100%), phân trắng lợn con (102/110 con khỏi, 92,73%), khó đẻ (12/12 con can thiệp an toàn, 100%), sốt sữa (2/2 con khỏi, 100%), viêm phổi (8/10 con khỏi, 80%), viêm bao khớp (32/39 con khỏi, 82,05%), trị ghẻ (337/350 con khỏi, 96,28%), đỡ đẻ an toàn 123/126 nái (97,61%), thiến lợn đực 221 con (100%), mổ hecni an toàn 20/27 con (74,07%).
- Kết quả nghiên cứu chuyên đề:
- Quy mô đàn nái: Năm 2014 trại có 550 nái (50 hậu bị, 350 nái chửa, 150 nái nuôi con); năm 2015 tăng lên 670 nái (80 hậu bị, 440 nái chửa, 150 nái nuôi con), tăng 120 con nhờ kiểm soát tốt an toàn dịch bệnh.
- Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung: Kiểm tra 300 lợn nái sau đẻ, phát hiện 37 cá thể mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 12,33%. Phân theo mức độ: thể nhẹ có 19 con (chiếm 6,33%), thể vừa có 12 con (chiếm 4,00%) và thể nặng có 6 con (chiếm 2,00%).
- Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ: Lứa 1 có tỷ lệ mắc cao nhất đạt 15,38% (14/91 con) do khung xương chậu chưa hoàn thiện dẫn đến đẻ khó; lứa 2 giảm xuống 12,37% (12/97 con); lứa 3 có tỷ lệ mắc thấp nhất đạt 9,82% (11/112 con).
- Triệu chứng lâm sàng: Nái khỏe mạnh có thân nhiệt trung bình 38,7°C, tần số hô hấp 14,53 nhịp/phút, âm hộ bình thường không có dịch rỉ viêm. Nái viêm tử cung có biểu hiện sốt, mệt mỏi, tần số hô hấp tăng lên 20,54 lần/phút (tăng rõ rệt so với bình thường), âm hộ sưng đỏ, dịch viêm màu trắng đục hoặc phớt hồng mùi hôi tanh chảy ra ngoài dính bết vùng mông và đuôi.
- Kết quả điều trị: Tiến hành điều trị trên 37 nái mắc bệnh bằng hai phác đồ, kết quả ghi nhận chữa khỏi cho 34 nái, đạt tỷ lệ chung 91,89%.
Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị
Khóa luận đúc kết các phát hiện dịch tễ và hiệu quả của các phác đồ thử nghiệm; nêu lên những hạn chế tồn tại trong quá trình thực tập; đồng thời đề xuất trang trại tiếp tục duy trì nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng dịch, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và kiểm tra sát sao đàn nái đẻ lứa 1 để xử lý kịp thời các ca đẻ khó.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi theo phương thức công nghiệp tại tỉnh Hòa Bình.
Bảng tổng hợp các số liệu nghiên cứu chính được thể hiện như sau:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Quy mô kiểm tra (con) |
Số lượng phát hiện (con) |
Tỷ lệ (%) |
| Quy mô đàn lợn nái năm 2014 |
- |
550 |
- |
| Quy mô đàn lợn nái năm 2015 |
- |
670 |
Tăng 21,82% |
| Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung chung |
300 |
37 |
12,33 |
| - Mắc thể nhẹ |
300 |
19 |
6,33 |
| - Mắc thể vừa |
300 |
12 |
4,00 |
| - Mắc thể nặng |
300 |
6 |
2,00 |
| Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ: |
|
|
|
| - Lứa đẻ 1 |
91 |
14 |
15,38 |
| - Lứa đẻ 2 |
97 |
12 |
12,37 |
| - Lứa đẻ 3 |
112 |
11 |
9,82 |
| Kết quả điều trị thử nghiệm (cả 2 phác đồ) |
37 |
34 (khỏi bệnh) |
91,89 |
Các giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật được tác giả đề xuất:
- Về công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Áp dụng quy trình giảm dần khẩu phần thức ăn cho nái trước khi đẻ 3 ngày (giảm 0,5 kg cám mỗi ngày đến ngày dự kiến đẻ chỉ cho ăn 1 kg/con/ngày) nhằm làm trống trực tràng, tạo không gian thuận lợi cho tử cung co bóp đẩy thai, giảm thiểu tình trạng ngạt thai và rách xây xát niêm mạc.
- Về quy trình đỡ đẻ và can thiệp sản khoa: Thực hiện sát trùng nghiêm ngặt tay của kỹ thuật viên và dụng cụ can thiệp bằng cồn, dùng chất bôi trơn vazolin hoặc dầu lạc khi phải móc thai; hạn chế tối đa việc can thiệp thô bạo.
- Về phương pháp điều trị: Kết hợp chặt chẽ giữa can thiệp cơ học tại chỗ và điều trị kháng sinh toàn thân. Khuyến cáo thụt rửa tử cung bằng dung dịch Biocid - 30 pha tỷ lệ 1/2000 (thể tích 1000 - 2000 ml), chờ 30 phút cho dịch viêm tháo sạch rồi mới bơm trực tiếp hỗn dịch Penicilin (1 triệu UI) + Streptomycin (1 g) pha trong 50 ml nước cất; kết hợp tiêm bắp kháng sinh Vetrimoxin hoặc Tylo - Genta và thuốc trợ lực Vitamin B1, B12, C liên tục từ 3 đến 5 ngày.
Đóng góp của đề tài:
- Bổ sung nguồn dẫn liệu thực tiễn có giá trị về đặc điểm dịch tễ lâm sàng của bệnh viêm tử cung trên đàn nái nuôi tại khu vực trung du miền núi phía Bắc (Hòa Bình).
- Chứng minh tính khả thi, hiệu lực cao (tỷ lệ khỏi bệnh đạt 91,89%) và độ an toàn của việc kết hợp thụt rửa sát trùng cục bộ bằng iod hữu cơ (Biocid - 30) với các kháng sinh phổ rộng thế hệ mới trong điều kiện chăn nuôi trang trại thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Đề tài được triển khai trong phạm vi thời gian tương đối ngắn (gần 3 tháng, từ ngày 02/3/2015 đến ngày 24/5/2015) và thực hiện tại một cơ sở chăn nuôi đơn lẻ (Trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ), do đó chưa bao quát được toàn diện biến động dịch tễ của bệnh theo chu kỳ các mùa khác nhau trong năm và trên các vùng sinh thái đa dạng.
- Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào chẩn đoán lâm sàng dựa trên triệu chứng thực thể, đo thân nhiệt, nhịp thở và quan sát dịch viêm; chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập, định danh chính xác các loài vi khuẩn gây bệnh và chưa thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần tiếp tục theo dõi khả năng sinh sản của đàn lợn nái sau khi được điều trị khỏi bệnh viêm tử cung, bao gồm các chỉ tiêu: khoảng thời gian từ cai sữa đến khi động dục trở lại, tỷ lệ thụ thai ở lần phối giống đầu tiên, số con sơ sinh/lứa và tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn con ở lứa đẻ tiếp theo.
- Triển khai lấy mẫu dịch viêm tử cung để phân lập, định danh vi khuẩn và thử nghiệm tính nhạy cảm với kháng sinh (kháng sinh đồ), từ đó hoàn thiện phác đồ điều trị trúng đích, hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Chăn nuôi, Thú y, Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: Tài liệu cung cấp cấu trúc hoàn chỉnh của một đề tài nghiên cứu sản khoa thú y thực địa, từ phương pháp bố trí thí nghiệm, phương pháp thu thập dữ liệu lâm sàng đến kỹ năng xử lý số liệu thực tế.
- Cán bộ kỹ thuật thú y, kỹ thuật viên trại lợn và người chăn nuôi gia súc sinh sản: Cung cấp quy trình thực hành chi tiết về kỹ thuật thụt rửa đường sinh dục, liều lượng pha chế thuốc sát trùng Biocid - 30 an toàn (tỷ lệ 1/2000), cách phối hợp kháng sinh tiêm bắp và bơm tại chỗ để điều trị dứt điểm bệnh viêm tử cung.
- Các nội dung đáng tham khảo chuyên sâu:
- Bảng quy trình phòng bệnh tổng hợp bằng vaccine và thuốc cho đàn lợn nái và lợn con theo từng lứa tuổi (Bảng 4.1 trong văn bản).
- Quy trình điều chỉnh khẩu phần dinh dưỡng cho nái chửa ở từng giai đoạn mang thai và kỹ thuật cắt giảm thức ăn trước đẻ nhằm phòng ngừa đẻ khó.
- Số liệu đối chiếu lâm sàng về sự thay đổi của tần số hô hấp (tăng từ 14,53 lên 20,54 lần/phút) và thân nhiệt giữa nái khỏe mạnh và nái mắc bệnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại trang trại là bao nhiêu và phân bố theo mức độ như thế nào?
Qua kiểm tra 300 con lợn nái sau đẻ tại Trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ, có 37 con mắc bệnh viêm tử cung, chiếm tỷ lệ 12,33%. Phân theo mức độ bệnh tật: thể nhẹ có 19 con (chiếm 6,33%), thể trung bình có 12 con (chiếm 4,00%) và thể nặng có 6 con (chiếm 2,00%). Số ca mắc thể nhẹ và trung bình chiếm đa số nhờ công tác vệ sinh chuồng trại và quy trình kỹ thuật đỡ đẻ của trại được quản lý tốt.
2. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung biến động như thế nào theo lứa đẻ của lợn nái?
Nghiên cứu theo dõi trên 3 nhóm lứa đẻ cho thấy: lợn nái đẻ lứa 1 có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất với 15,38% (14 con mắc trên 91 con kiểm tra). Tỷ lệ này giảm dần ở các lứa tiếp theo: lứa 2 đạt 12,37% (12/97 con) và lứa 3 đạt 9,82% (11/112 con). Nguyên nhân do nái đẻ lứa đầu có khung xương chậu chưa phát triển hoàn thiện, dễ xảy ra hiện tượng đẻ khó và phải can thiệp cơ học bằng tay hoặc dụng cụ, dẫn đến xây xát niêm mạc đường sinh dục.
3. Các chỉ số lâm sàng ở lợn nái mắc viêm tử cung có sự khác biệt gì so với lợn nái khỏe mạnh?
Ở lợn nái khỏe mạnh sau đẻ, thân nhiệt trung bình đạt 38,7°C (nằm trong giới hạn sinh lý 38,5 - 39,5°C), tần số hô hấp trung bình là 14,53 nhịp/phút và âm hộ không có dịch rỉ viêm. Ngược lại, lợn nái bị viêm tử cung có thân nhiệt tăng cao (sốt), tần số hô hấp tăng mạnh lên mức trung bình 20,54 lần/phút (cao hơn nái khỏe khoảng 6 nhịp/phút) và luôn có dịch viêm màu trắng đục hoặc phớt hồng, dịch nhày mùi hôi tanh chảy ra từ mép âm môn.
4. Hai phác đồ điều trị thử nghiệm trong đề tài được thiết lập với thành phần thuốc và liều lượng ra sao?
Cả hai phác đồ đều áp dụng biện pháp thụt rửa cục bộ bằng 1000 - 2000 ml dung dịch Biocid - 30 pha tỷ lệ 1/2000, sau 30 phút bơm hỗn dịch kháng sinh Penicilin (1 triệu UI) + Streptomycin (1 g) pha trong 50 ml nước cất vào tử cung, kết hợp tiêm thuốc trợ sức Vitamin B1, B12, C. Điểm khác biệt nằm ở kháng sinh điều trị toàn thân:
- Phác đồ 1 sử dụng kháng sinh Vetrimoxin (Amoxycilin 200 g) tiêm bắp liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày.
- Phác đồ 2 sử dụng kháng sinh Tylo - Genta (Tylosin tartrate 100 g + Gentamycin sunfata 50 mg) tiêm bắp liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày. Liệu trình điều trị từ 3 đến 5 ngày.
5. Kết quả điều trị thử nghiệm thực tế trên đàn lợn nái mắc bệnh đạt được như thế nào?
Tổng số 37 lợn nái mắc bệnh viêm tử cung được đưa vào điều trị thử nghiệm (21 con theo Phác đồ 1 và 16 con theo Phác đồ 2). Kết quả ghi nhận có 34 con khỏi bệnh hoàn toàn, đạt tỷ lệ điều trị thành công chung là 91,89%. Cả hai phác đồ đều thể hiện hiệu lực kháng khuẩn cao và đảm bảo tính an toàn cho gia súc khi sử dụng đúng liều lượng hướng dẫn.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lê Thị May đã khảo sát toàn diện tình hình dịch tễ của bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại Trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ (Hòa Bình), ghi nhận tỷ lệ mắc chung là 12,33% với nguy cơ cao nhất tập trung ở nhóm nái đẻ lứa đầu (15,38%). Đề tài đã thử nghiệm thành công hai phác đồ kết hợp giữa thụt rửa sát trùng cục bộ bằng dung dịch Biocid - 30, bơm kháng sinh Penicilin - Streptomycin vào tử cung và tiêm bắp kháng sinh toàn thân (Vetrimoxin hoặc Tylo - Genta), mang lại tỷ lệ chữa khỏi đạt 91,89%. Các kết quả nghiên cứu và quy trình phòng trị đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học hữu ích cho công tác kiểm soát bệnh sản khoa và nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản quy mô trang trại tập trung.