MỞ ĐẦU Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có điều kiện khí hậu, tập quán sinh hoạt và vệ sinh môi trường rất thuận lợi cho sự phát triển và lây nhiễm của các bệnh giun sán. Tình trạng nhiễm giun sán tại Việt Nam nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm. Bệnh giun sán phân bố rộng rãi khắp cả nước với tỷ lệ nhiễm khác nhau tùy theo vùng miền. Nhiễm giun sán có ảnh hưởng mạn tính tới sức khỏe, tình trạng dinh dưỡng, làm giảm sự phát triển về thể chất, tinh thần và trí tuệ của con người, ảnh hưởng đến quá trình học tập và làm việc, gây trở ngại tới sự phát triển kinh tế [8], [13].
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ nhiễm giun sán đang ngày càng gia tăng. được lây truyền từ động vật sang người. Mặc dù con người không phải là vật chủ chính nhưng do con người tiếp xúc với các vật chủ chính như chó, mèo, … và ăn các thức ăn có nhiễm ấu trùng của những loài giun sán này chưa được nấu chín nên tạo điều kiện thuận lợi để giun sán xâm nhập vào cơ thể và gây ra các bệnh giun sán [12], [19]. Bệnh do Cysticercus spp.
và Echinococcus spp.sẽ tạo nên các u nang chèn ép các mô xung quanh. Ấu trùng Gnathostoma spp. có thể tồn tại 10-12 năm trong cơ thể cơ thể người do đó góp phần vào một tỷ lệ mắc bệnh đáng kể. Tỷ lệ tử vong do bệnh này khoảng 8-25% hoặc có di chứng kéo dài, khoảng 30% có liên quan đến hệ thần kinh [28], [42], [43].
được xếp vào loại giun sán nguy hiểm nhất trong các loại giun sán đường tiêu hóa do chúng có thể tồn tại rất lâu trong cơ thể người, có khả năng sống hoại sinh chờ điều kiện thích hợp xâm nhập và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí có thể tử vong. Số người nhiễm giun lươn ở Việt Nam khá cao, bệnh cũng có tỷ lệ tái nhiễm cao 2 hơn so với các bệnh giun sán khác do có chu trình tự nhiễm [10], [23]. Năm 2004 Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa bệnh do sán lá gan lớn (Fasciola spp) vào nhóm một trong những bệnh giun sán cần được quan tâm vì có diễn biến phức tạp và nguy hiểm. Hiện nay, tại đồng bằng sông Cửu Long các bệnh về giun sán vẫn chưa được thật sự quan tâm.
Xét nghiệm phân được xem là “tiêu chuẩn vàng” để chẩn đoán nhiễm giun sán song vì độ nhạy của phương pháp rất thấp nên hiện nay việc sử dụng phương pháp ELISA đang được đánh giá khá cao trong việc chẩn đoán giun sán đặc biệt những loài gây bệnh trên mô, cơ quan ngoài hệ tiêu hóa. Xuất phát từ những vấn đề cần thiết trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi quyết định tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán, đặc điểm huyết đồ và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2021-2022” với hai mục tiêu cụ thể sau: 1. Xác định tỷ lệ nhiễm một số loài giun sán bằng kỹ thuật ELISA và đặc điểm huyết đồ của bệnh nhân đến xét nghiệm ký sinh trùng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2021-2022. Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm một số loài giun sán trên bệnh nhân đến xét nghiệm ký sinh trùng bằng kỹ thuật ELISA tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2021-2022.
3 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về giun sán 1. Đại cƣơng Khoa học ngày nay đã tách ra làm nhiều lĩnh vực nghiên cứu về giun sán (như giun sán học thú y, giun sán học thực vật, giun sán y học,…). Trong đó, giun sán y học là nghiên cứu các sinh vật ký sinh ở người để tìm ra những đặc điểm y học và từ đó tìm ra cách giải quyết mối quan hệ đó và con người [8], [11].
Giun sán y học là một ngành khoa học nghiên cứu về các đặc điểm như hình thể, đặc điểm sinh học, đặc điểm dịch tễ học, vai trò gây bệnh, chẩn đoán, điều trị và biện pháp phòng chống các loại sinh vật sống ăn bám ở bên trong, bên ngoài hoặc gần người một cách tạm thời hay vĩnh viễn với mục đích có chỗ trú ẩn hay nguồn thức ăn để sinh sống và gây hại cho cơ thể con người. Hiện nay, giun sán y học được chia thành các nhóm là: giun sán, đơn bào, vi nấm, tiết túc. Tùy từng loài giun sán sẽ có các hiện tượng ký sinh khác nhau như: giun sán vĩnh viễn là suốt đời ký sinh trên/trong vật chủ; giun sán tạm thời là chỉ khi cần thức ăn hay sinh chất thì bám vào vật chủ để chiếm sinh chất. Tùy từng loài giun sán mà có những dạng vật chủ nhất định.
Vật chủ được chia làm các nhóm như vật chủ chính, vật chủ trung gian, môi giới truyền bệnh và vật chủ chứa. Trong đó, vật chủ chính (final host) là vật chủ mang giun sán trưởng thành và có khả năng sinh sản hữu tính; vật chủ trung gian là vật chủ cần thiết cho giun sán phát triển nhưng không đến giai đoạn trưởng thành và không thể sinh sản hữu tính; môi giới truyền bệnh (transportable creature) là những sinh vật vận chuyển mầm bệnh hay giun sán từ vị trí này đến các vị trí khác nhưng không làm thay đổi các sinh thái ký của chúng; vật chủ chứa (paratenic host) là vật chủ tiếp nhận ấu trùng này đến vị trí nào đó trên cơ thể và dừng lại tại đó không phát triển và nếu có vật chủ 4 thích hợp ăn phải ấu trùng này sẽ tiếp tục phát triển và trưởng thành [11], [13]. Giun sán ký sinh là những động vật đa bào, có thể sống tự do hay ký sinh trên ký chủ. Giun sán ký sinh bao gồm các loài giun sán ký sinh trên động vật và thực vật.
Tuy nhiên, trong giun sán y học chỉ nghiên cứu các đối tượng liên quan đến người và các động vật khác có liên quan đến người nghĩa là có thể truyền bệnh sang người. Hiện nay nhóm giun sán được chia thành hai nhóm là nhóm giun và nhóm sán. Dựa vào hình thái nhóm giun tròn được chia làm hai lớp là giun tròn và giun đầu gai; nhóm sán cũng chia làm hai lớp là sán lá và sán dây [11], [13]. Dịch tễ Bệnh giun sán phân bố khắp nơi trên thế giới, đặc biệt tại các vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt và đặc biệt những vùng có điều kiện vệ sinh kém [43].
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới cùng với địa hình đa dạng, phức tạp nên tỷ lệ nhiễm giun sán cũng thay đổi theo từng vùng [11], [12]. Tỷ lệ nhiễm giun sán cũng thay đổi mùa, tập quán ăn uống sinh hoạt điều có ảnh hưởng lên tình hình nhiễm giun sán như ở miền Bắc, người dân có thói quen tưới rau bằng phân tươi chưa qua xử lý, các vùng ven biển miền trung có các món ăn đặc sản được chế biến từ các loại thủy hải sản chưa được nấu chín và ở khu vực miền Nam, người dân có thói quen ăn uống, sử dụng các thực phẩm chưa được nấu chín (tái) như: thịt heo, thịt bò, tôm, cá,… chính vì thế đã tạo điều kiện cho cho các loại giun sán lây truyền. Ở các dân tộc miền Trung du và miền núi, họ có lối sống du mục, định canh, định cư, sống chung với vật nuôi, nên làm tăng nguy cơ lây nhiễm giun sán. Nước ta có rất nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau đây cũng là một yếu tố có ảnh hưởng lên khả năng nhiễm giun sán [14], [15], [19].
Những người lao động tay chân tiếp xúc trực tiếp với đất không có dụng cụ bảo hộ lao động sẽ có nguy cơ 5 nhiễm các loại giun sán lây qua da. người dân vùng biển thường xuyên ăn các loại hải sản tái sẽ có nguy cơ nhiễm giun sán có ký chủ là hải sản [18], [19]. Bệnh giun sán là một bệnh mang tính xã hội nên vấn đề phòng chống tiến tới việc khống chế bệnh phải mang tính chất xã hội và là công việc chung của toàn cộng đồng, cần chung tay đẩy lùi các bệnh về giun sán gây ra. Tỷ lệ nhiễm giun sán theo báo cáo của WHO trên thế giới vẫn còn khá cao do nó liên quan chặt chẽ tới vấn đề quản lý môi trường sống.
Do đó, hiện nay việc phòng chống thường được lồng ghép vào các chương trình môi trường, cung cấp nước sạch và sức khỏe ban đầu [27]. Một số giun sán gây bệnh thƣờng gặp 1. Hiện nay trên thế giới chỉ mới phát hiện được hai loài thuộc giống Toxocara spp. gây bệnh trên người là giun đũa chó (Toxocara canis) và giun đũa mèo (Toxocara cati) được đặt theo tên vật chủ ký sinh chính.
Con người sẽ bị nhiễm giun sán này khi tiếp xúc với các con vật vị nhiễm Toxocara spp. hoặc ăn phải thực phẩm, nước uống có chứa trứng chưa được nấu chín hay ấu trùng giai đoạn ba trong môi trường. Ở người, ấu trùng chui qua thành ruột, vào máu sau đó đi đến các cơ quan khác nhau trong cơ thể [5], [39]. Chu trình phát triển của giun đũa chó/mèo (Nguồn: CDC, 2022 [41]) 6 Khi bệnh nhân nhiễm Toxocara spp.
Triệu chứng thường không quá rầm rộ, các triệu chứng thường gặp như: ngứa, nổi mẫn, đau bụng đau đầu, ho, rối loạn giấc ngủ, … Một số cơ quan vật chủ có thể bị ảnh hưởng khi ấu trùng chu du lạc chỗ đến như các cơ quan khác như tại mắt, cơ quan nội tạng và hệ thần kinh [5], [8]. Giun lươn Strongyloides spp. vừa sống ký sinh vừa sống tự do nên hình dạng cũng thay đổi tùy theo dạng. Giun lươn sống tự do có kích thước nhỏ và thon dài, thực quản ụ phình hơn so với giun lươn ký sinh thực quản hình ống dài một phần tư chiều dài thân.
Giun đực dài 0,7-1mm, chiều ngang 30-40µm, đuôi cong như lưỡi câu, giun cái dài khoảng 2mm chiều ngang 30-40µm, âm môn ở khoảng một phần ba sau thân, trứng giun lươn có hình bầu dục, kích thước 5-70x30-40µm, vỏ mỏng, trong suốt [4], [13]. Chu trình phát triển của giun lƣơn (Nguồn: CDC, 2022 [40]) Khi strongyloides spp. ký sinh tại ruột có thể gây những tổn thương, loét niêm mạc ruột, tá tràng gây tình trạng rối loạn tiêu hóa hay viêm ruột mạn tính. Do giun lươn có khả năng tự nhân lên trong cơ thể người nên rất nguy hiểm đặc biệt ở nhóm người mắc các bệnh suy giảm miễn dịch có thể dẫn đến tử vong nếu không phát hiện và điều trị kịp thời [13].