Chương 1 TỎNG QUAN 1. Lịch sử bệnh LMLM Bệnh LMLM lần đầu tiên được mô tả vào năm 1514 tại Italy (Mahy, 2003; Arzt va ctv, 2011), trong các công trình nghiên cứu từ năm 1897 đến 1898, Loeffler và Frosch đã chứng minh được vi-rút có thể qua màng lọc với kích thước nhỏ nhất và thí nghiệm gây bệnh thực nghiệm trên bê. Vào các năm 1920, ba chủng điển hình của vi-rút LMLM (O, A và C) được phát hiện tại Pháp, Đức. Sau đó, vào những năm 1940-1950, các chủng khác, gồm SAT1-3 va Asia 1 được Phòng thí nghiệm Pirbright, Vương Quốc Anh công nhận (Brown, 2004).
Sau năm 1954, một số quốc gia trên thế giới (Australia, New Zealand, Philippines, các nước thuộc quần đảo Thái Bình Dương, các nước thuộc EU, các nước thuộc vùng Bắc Trung Mỹ) đã nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm của bệnh LMLM nhằm góp phần phục vụ công tác chân đoán, phòng bệnh, khống chế và thanh toán bệnh LMLM (Andersen, 1980). Sau đó, bệnh LMLM tiếp tục xuất hiện ở nhiều nước thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh và Châu Âu. Điển hình là trong những năm 1981-1985, dich bệnh LMLM trên gia súc xuất hiện ở 80 nước, gây nên tổn thất lớn cho nền kinh tế của những nước này. Năm 1997, dịch xảy ra ở heo trên toàn lãnh thô Đài Loan, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và dé lại hậu quả xấu cho ngành chăn nuôi heo trong nhiều năm.
Các nước Nhật Bản và Hàn Quốc là những nước từ lâu không có bệnh LMLM nhưng đến năm 2000 đã xuất hiện bệnh này. Tại châu Âu năm 2001 dịch đầu tiên xảy ra ở Anh, sau đó lan ra Pháp, Hà Lan, Ai-Len qua con đường vận chuyền gia súc. Đến nay, nhiều quốc gia trên thé giới đã thanh toán được bệnh dich LMLM như Úc, New Zealand, Philippines, các quốc gia thuộc quần đảo Thái Bình Dương, các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU), các nước thuộc vùng Bắc Trung Mỹ. Các quốc gia trên đã xây dựng và triển khai thực hiện một chương trình quốc gia về tiêm phòng nhiều năm, kiểm dich và các biện pháp khác theo quy định của OIE (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2020).
Tại Việt Nam, bệnh LMLM được phát hiện lần đầu ở Nha Trang năm 1898. Sau đó xảy ra ở các tỉnh Nam bộ vào năm 1920 và lây rộng ra các tỉnh ở phạm vi cả nước. Trong khoảng thời gian từ năm 2006-2015, tổng số 5.700 6 dich LMLM đã xuất hiện tại 487 đơn vị huyện thuộc 62/63 tỉnh thành (trừ Bình Thuận). Ở giai đoạn 2016-2020, số 6 dich giảm 12%, số gia súc mac bệnh giảm 32%, tổng số 1.760 6 dịch LMLM đã xuất hiện tại 57/63 tỉnh thành trên phạm vi cả nước (Cục Thú y, 2020).
Hiện nay, số lượng gia súc từ nước ngoài nhập vào Việt Nam là rất lớn, bao gồm nhập theo đường chính ngạch và đường tiểu ngạch tại các cửa khâu, lối mòn, lối mở tại các vùng biên giới giữa Việt Nam với Cam-Pu-Chia, Lào và Trung Quốc. Gia súc nhập khẩu vào Việt Nam được vận chuyền đi khắp các tỉnh thành dé phục vụ nhu cầu tiêu dùng, do đó nguy cơ dịch bệnh xâm nhập và phát tán tại Việt Nam là rất lớn. Về quan hệ quốc tế, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), tham gia khu vực mậu dịch tự do của các nước ASEAN (AFTA), cam kết thực hiện Hiệp định về công tác kiểm dịch động thực vật (SPS). Một trong những yêu cầu của hoạt động thương mại quốc tế là các nước tham gia phải có chương trình quốc gia giám sát một số dịch bệnh nguy hiểm, đặc biệt là bệnh LMLM gia súc.
Chính vì thế, bệnh LMLM ảnh hưởng đến các chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt và heo xuất khẩu, ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong khi nước ta đang tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016a). Căn bệnh học Bệnh LMLM gia súc gây ra bởi loài vi-rút thuộc họ Picornaviridae, giỗng Aphthovirus. Vì-rút có 7 typ là: A, O, C, Asia 1, SAT 1, SAT 2, SAT 3. Các typ nay có tinh kháng nguyên không giống nhau nên không gây miễn dịch chéo nhưng chúng gây các triệu chứng, bệnh tích ở động vật rất giống nhau.
Trong mỗi týp lại có các týp phụ. Đến nay đã phát hiện được trên 70 týp phụ, các týp phụ được ký hiệu gồm tên của týp chính và đánh dấu theo thứ tự theo thời gian phát hiện ra chúng, ví dụ: A22, O11. Các typ huyết thanh có sự phân bố khác nhau trên thé giới. Týp huyết thanh O, A, C chủ yếu xuất hiện ở châu Âu, Nam Mỹ, châu Phi và châu Á.
Týp huyết thanh SAT 1, SAT 2, SAT 3 thường bị giới hạn trong tiểu vùng Sahara châu Phi. Còn lại týp huyết thanh Asia 1 chỉ xảy ra ở châu Á (Alam và ctv, 2013). Vi-rút gây bệnh LMLM có cấu trúc hình đa diện gồm 30 mặt đều, có đường kính từ 20-30 nm và có thé qua được mang lọc Berkefeld, Chamberland va Seiz (Knowles va Samuel, 2001). Vi-rút LMLM có cau trúc di truyền là ARN chuỗi don, vỏ capsid của vi-rút có hơn 60 don vi capsomere.
Mỗi capsomere có 4 loại protein cau trúc giống nhau là VP1, VP2, VP3 và VP4. VP1, VP2 và VP3 tạo nên bề mặt của khối 20 mặt đối xứng với đường kính khoảng 23 nm còn VP4 là protein ở bên trong capsid, kết dính ARN vi-rút với mặt trong của capsomere. VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cô định vi-rút trên những tế bào, đóng vai trò quan trọng nhất trong việc gây bệnh, đồng thời là loại kháng nguyên chính tạo ra kháng thé chống lại bệnh LMLM (Grubman và Baxt, 2004; Alam và ctv, 2013). Hơn nữa, cau trúc của VPI cũng là điểm xuất phát cho những nghiên cứu về công nghệ di truyền và tiến hóa hiện nay (Nguyễn Tiến Dũng, 2000; Tô Long Thành, 2000; Kweon va ctv, 2003).
Ở Việt Nam, dòng Ind-2001d được báo cáo đầu tiên vào năm 2015 tại 3 tỉnh (Đắk Nông, Đắk Lắk và Ninh Thuận). Trong giai đoạn 2015-2019, xuất hiện chủng vi-rút mới ở tỉnh Sơn La và Quang Nam là vi-rút LMLM typ O dòng Ind- 2001d gây bệnh trên trâu và bò (trước đây chỉ có 3 dòng lưu hành phổ biến như: O/PanAsia, O/Cathay, O/Mya-98). Phân tích trình tự gen đối với dòng mới O/Ind2001d tại Việt Nam có tương đồng gen di truyền giống 98% với vi-rút O/Ind2001d đang lưu hành tại quốc gia vùng Nam A là An Độ va Bangladesh (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016a). Đồng thời cùng có sự xuất hiện trở lại vi-rút LMLM týp A dòng ASIA/Sea-97 ở Sơn La, Kon Tum và Quảng Ngãi trong các năm 2016 và 2017.
Tuy nhiên đến giữa năm 2019 không ghi nhận thêm ô dịch do vi-rút LMLM týp A. Từ cuối năm 2018 đến năm 2019, vi-rút LMLM týp O, dòng O/Mya-98 và dòng O/Ind2001e đã gây ra các 6 dịch trên heo, bò va dé. Như vậy, đối với vi-rút LMLM týp O, cả nước ghi nhận đang lưu hành 5 dòng khác nhau gồm O/PanAsia, O/Mya-98, O/Cathay, O/Ind2001d và O/Ind2001e và thường xuyên biến đối di truyền, trong đó vi-rút LMLM typ A ít biến động hơn chỉ lưu hành 1 dòng A/ASIA/Sea-97 duy nhất (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2020). Sức đề kháng của vi-rút Vi-rút LMLM có khả năng chống chịu với môi trường, đặc biệt là chống lại các dung môi lipid như ete và chloroform nhưng bị bat hoạt ở nhiệt độ trên 56°C, pH <6,0 hoặc> 9,0.
Những chất khử trùng hiệu quả gồm natri hydroxit (2%), natri cacbonat (4%), axit xitric (0,2%), axetic axit (2%), natri hypoclorit (3%), kali peroxymonosulfat/natri clorua (1%), clo dioxit. Những chất khử trùng kém hiệu quả gồm Iodophors, hợp chất amoni bậc bốn, hypoclorit và phenol, đặc biệt là khi có chất hữu cơ (OIE, 2013). Vi-rút có thê tồn tại khoảng 14 ngày trong chuồng nuôi, 39 ngày trong chất thải của động vật. Trên bề mặt của phân, vi-rút tồn tại được 28 ngày vào mua thu va 67 ngày vào mùa đông.
Vi-rút có thé sống lâu hơn ở trong thức ăn, ở lông trâu bò được 4 tuần, trong nước thải được trên 130 ngày. Trong các sản pham của động vật, vi-rút bị bất hoạt khi có sự a-xít hoá của sữa và thịt. Sức đề kháng của vi-rút phụ thuộc phần lớn vào chất chứa nó. Vi-rút có sức đề kháng tương đối mạnh khi nó dính vào những chất khô hay những chất protein, ví dụ trong cỏ khô vi-rút sống được 8-15 tuần, trong tuỷ xương dài, phủ tạng vi-rút có thé sống 40 ngày.
Ở trong tổ chức và mô bào, vi-rút có sức đề kháng mạnh cả với những chất sát trùng mà có thé giết được vi khuẩn khác (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016a). Nguồn bệnh và đường truyền lây 1. Nguồn bệnh Trong tự nhiên, vi-rút LMLM có thể tồn tại ở các loài gia súc mẫn cảm (như trâu, bò, heo, đê, cừu,.), các loài động vật hoang da (voi, lạc đà, hươu, nai, heo rừng, bò rừng, sơn dương, nhiêu loại gặm nhâm và loài nhai lại hoang dã). Tại các ô dịch, gia súc khỏi bệnh lâm sàng nhưng vẫn có thé mang vi-rút LMLM hoặc tại các ô địch chưa được xử lý, vệ sinh tiêu độc khử trùng, vi-rút vẫn có thể tồn tại ở các chất chứa, chất thải từ gia súc, ở các dụng cụ chăn nuôi hoặc ở các loài vật chủ trung gian truyền bệnh (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016b).
Đường xâm nhiễm và lây truyền Vi-rút LMLM khi xâm nhiễm vào tế bào vật chủ sẽ dịch mã để tạo các protein cấu trúc và các protein không cấu trúc (3D, 3A/3AB/3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro). Các protein không cau trúc liên quan đến hoạt động của vi-rút và biến đối chức năng tế bào vật chủ. Một số protein không cấu trúc gây đáp ứng miễn dịch và tạo ra các kháng thê đặc hiệu kháng 3ABC của vi-rút LMLM. Thông thường, vắc- xin chỉ chứa hạt vi-rút tinh khiết với dung dịch đệm va chất bổ trợ, nên đáp ứng miễn dich với vắc-xin chỉ tạo ra kháng thé kháng protein cấu trúc của vi-rút.
Trong trường hop thú được tiêm vắc-xin chưa tinh khiết hoàn toàn có bị nhiễm protein không cấu trúc của vi-rút LMLM, thú thường có đáp ứng miễn dịch yếu và ngắn đối với protein không cấu trúc của vi-rút LMLM này vì hàm lượng này trong vắc-xin rất thấp. Do đó, nếu phát hiện các kháng thé kháng protein không cấu trúc, ta có thể kết luận con vật bị nhiễm vi-rút LMLM mà không do tiêm vắc-xin (Doel, 2005). Vi-rút gây bệnh LMLM có thé lây truyền trực tiếp giữa thú mắc bệnh và thú khoẻ khi nhốt chung hoặc chăn thả chung trên đồng cỏ. Vi-rút từ nước bọt, dich mụn nước, các chất bài xuất, bài tiết của con vật mắc bệnh xâm nhập vào con khoẻ.