Đặt vấn đề: Nhiễm trùng huyết (NTH) là một nguyên nhân gây tử vong quan trọng ở bệnh nhân trong bệnh viện, mà tỷ lệ cao nhất là ở bệnh nhi. Đặc biệt ngay cả các bệnh viện Trung Ương mặc dù có hệ thống trang thiết bị phục vụ cấp cứu tốt, đội ngũ bác sỹ chuyên khoa giỏi nhưng tỷ lệ tử vong vẫn rất cao. Nguyên nhân không nhỏ dẫn đến tình trạng này chính là chiều hướng gia tăng tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây NTH. Hiện nay tại Việt Nam, tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh trong điều trị các bệnh thông thường diễn ra khá phổ biến.
Việc sử dụng bừa bãi và quá mức kháng sinh làm gia tăng và lan truyền vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng từ đó dẫn đến thất bại trong điều trị, kéo dài thời gian nằm viện của bệnh nhân, gây tổn thất lớn về mặt kinh tế. Có những kháng sinh đặc biệt trong điều trị và chưa có thuốc thay thế như Vancomycin cũng đã có chủng đề kháng. Theo nghiên cứu của một số bệnh viện cho thấy Staphylococcus aureus, Escherichia coli vẫn là tác nhân vi khuẩn hàng đầu gây NTH. Các kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycoside và nhóm Cephalosporin là các kháng sinh được lựa chọn đầu tiên trong điều trị.
Nhóm kháng sinh Quinolone và nhóm Cephalosporin thế hệ II, III, IV nên được lựa chọn để điều trị cho những bệnh nhân NTH nghi do vi khuẩn Salmonella typhi và Salmonella paratyphi A, B, C. Nhằm góp phần đánh giá tình trạng NTH do vi khuẩn gây ra và mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn này, chúng tôi xin thực hiện đề tài: “ GIÁM SÁT TÌNH HÌNH ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC VI KHUẨN PHÂN LẬP TỪ MÁU TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 01/2009 ĐẾN 05/2009 ” SVTH- Phan Thị Bích Thùy Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD-Ths.Bs Lê Quốc Thịnh 1. Mục tiêu đề tài: 1. Mục tiêu tổng quát: Khảo sát tần suất các vi khuẩn gây bệnh phân lập được từ máu và mức độ đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn này tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009.
Mục tiêu cụ thể: – Khảo sát tỷ lệ phân bố số ca cấy máu dương tính theo độ tuổi, giới tính, khoa. – Khảo sát tỷ lệ vi khuẩn phân lập được từ máu các bệnh nhân có chỉ định cấy máu ở bệnh viện Nhi Đồng 1. – Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được từ máu. – Khảo sát thời gian cấy máu cho kết quả dương tính đối với mỗi loại vi khuẩn.
– Khảo sát tần suất các vi khuẩn có sản sinh men β- lactamase phổ rộng (ESBLs). SVTH- Phan Thị Bích Thùy Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD-Ths.Bs Lê Quốc Thịnh PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH- Phan Thị Bích Thùy Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD-Ths.Bs Lê Quốc Thịnh PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nhiễm trùng huyết: [1] 2. Khái niệm: ❖ Nhiễm trùng: dùng để chỉ toàn bộ quá trình sinh học diễn ra khi có sự xâm nhập, lan truyền và phát triển của vi sinh vật gây bệnh trong cơ thể, làm thay đổi chức năng sinh lý bình thường của cơ thể.
❖ Nhiễm trùng huyết: NTH là một tình trạng bệnh lý gây nên do đáp ứng có hại hay có tác dụng phá hủy cơ thể đối với nhiễm trùng. Rất nhiều bộ phận của đáp ứng miễn dịch có tác dụng chống nhiễm trùng trong một điều kiện nào đó có thể gây tổn thương tế bào và tổ chức đưa đến suy chức năng đa cơ quan, đây là một đặc trưng lâm sàng chính của NTH. − NTH hình thành khi đáp ứng ban đầu của vật chủ đối với nhiễm trùng bị khuếch đại và rồi không thể kiểm soát được. Về mặt lâm sàng, khởi đầu của NTH thường âm ỉ.
Các dấu hiệu có thể bao gồm: ⮚ Sốt: nhiệt độ tăng > 38 oC ⮚ Nhịp tim nhanh ⮚ Tần số thở nhanh ⮚ Bạch cầu > 12 000/mm3 hoặc < 4 000/ mm3, hoặc >10 % bạch cầu non ( bạch cầu dạng đũa). − NTH nặng thường kèm với rối loạn chức năng cơ quan, giảm tưới máu. Giảm tưới máu và bất thường tưới máu có thể bao gồm hạ huyết áp, rối loạn phân bố máu, thiểu niệu hoặc thay đổi đột ngột tình trạng ý thức nhưng không chỉ giới hạn ở các biểu hiện này. Nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể diễn tiến đến suy thận, suy hô hấp, rối loạn đông máu, hạ huyết áp nặng không đáp ứng điều trị.
− Một nghiên cứu dịch tễ học gần đây ở Bắc Mỹ đã cho thấy tỷ lệ NTH khoảng 3 trường hợp/ 1000 dân. Tỷ lệ tử vong chung vào khoảng 30 %, tăng đến 40 % ở người già và lên đến 50 % hoặc cao hơn ở bệnh nhân có SVTH- Phan Thị Bích Thùy Trang 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD-Ths.Bs Lê Quốc Thịnh hội chứng NTH nặng nề. Cũng cần thiết phải nhấn mạnh rằng những con số này chỉ mới phản ánh những bệnh nhân được nhập viện vào các đơn vị chăm sóc tích cực và có đầy đủ các phương tiện hồi sức. − Chỉ riêng ở Hoa Kỳ thì mỗi năm có khoảng 750 000 người mắc bệnh và 215000 trường hợp tử vong chiếm 9,3 % tổng số tử vong tại nước này.
Như vậy, đứng về số lượng thì tử vong do NTH tương đương với tử vong do nhồi máu cơ tim cấp, và cao nhiều hơn so với AIDS, ung thư vú. − Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới thì tỷ lệ NTH sơ sinh chiếm 4 % trong các nguyên nhân tử vong sơ sinh. Năm 2003, mỗi ngày thế giới có khoảng 350.000 trẻ chào đời, trong đó 12.000 trẻ tử vong trong giai đoạn sơ sinh, nguyên nhân chính gây tử vong sơ sinh là NTH sơ sinh chiếm tỷ lệ 33 %. − Tại Việt Nam, một số công trình nghiên cứu NTH sơ sinh cho thấy tỷ lệ tử vong trong bệnh này rất cao: theo Huỳnh Thị Duy Hương trong 2 năm 1996-1997 tỷ lệ tử vong của NTH sơ sinh tại BV.Nhi đồng 1 là 12,9 %, theo Phạm Bích Chi năm 2002 là 32,3 % tại BV.
Dẫu rằng khả năng chẩn đoán và điều trị với kháng sinh trị liệu ngày càng phát triển, song NTH sơ sinh vẫn có tỷ lệ tử vong cao. Nguyên nhân: NTH là một trong những hội chứng lâm sàng nguy hiểm, có nguyên nhân bắt nguồn từ sự xâm nhập vào máu của vi sinh vật. Nguyên nhân gây NTH phần lớn do các vi khuẩn Gram âm, tụ cầu, phế cầu, các vi khuẩn Gram dương khác ít gặp hơn. Triệu chứng: ❖ Biểu hiện của NTH là một loạt các triệu chứng: sốt, rét run, tim đập nhanh, rối loạn nhịp thở và ý thức.
Đặc biệt là khi vi sinh vật tiết ra các độc tố sẽ dẫn tới tình trạng sốc nhiễm khuẩn mà biểu hiện rõ nhất là tụt huyết áp, suy đa tạng, rối loạn hô hấp, rối loạn tuần hoàn và ý thức. SVTH- Phan Thị Bích Thùy Trang 16 Khóa luận tốt nghiệp GVHD-Ths.Bs Lê Quốc Thịnh ❖ Chẩn đoán xác định NTH phải có bằng chứng nhiễm trùng trên lâm sàng cộng với ít nhất hai trong số các dấu hiệu lâm sàng sau: − Tăng thân nhiệt − Tim đập nhanh − Tần số thở nhanh − Tăng lactate huyết thanh − Thể tích nước tiểu < 30 ml/ h ❖ Chẩn đoán giai đoạn: NTH có thể chia thành 3 giai đoạn dựa trên các biểu hiện lâm sàng: − Giai đoạn 1: Khởi đầu sốc ⮚ Nhiệt độ hậu môn >38,4 oC ⮚ Số lượng tiểu cầu trong giới hạn bình thường ⮚ Tăng không khí tự phát ⮚ Tần số tim nhanh nhưng ổn định. − Giai đoạn 2: Sốc nhiễm trùng ⮚ Giảm tiểu cầu ⮚ Cần thông khí hỗ trợ ⮚ Biểu hiện tình trạng nhiễm nội độc tố − Giai đoạn 3a: ⮚ Tình trạng lâm sàng và huyết động cải thiện ⮚ Không cần máy thở ⮚ Không cần theo dõi đặc biệt − Giai đoạn 3b: ⮚ Tình trạng lâm sàng xấu hơn ⮚ Huyết động ngày càng khó kiểm soát ⮚ Biểu hiện giảm tưới máu tổ chức và thiếu oxy tế bào ⮚ Rối loạn chức năng đa cơ quan và tử vong SVTH- Phan Thị Bích Thùy Trang 17 Khóa luận tốt nghiệp GVHD-Ths.Bs Lê Quốc Thịnh 2. Chẩn đoán: Chẩn đoán NTH dựa vào các biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân: sốt, tim đập nhanh, thở nhanh… Ngoài ra để chẩn đoán tình trạng NTH, một số xét nghiệm cần phải làm là cấy máu, nghĩa là lấy máu bệnh nhân cho vào môi trường nuôi dưỡng để phân lập tác nhân gây bệnh.
Cấy máu sẽ giúp xác định đúng vi khuẩn gây bệnh và dựa vào độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh mà lựa chọn kháng sinh điều trị thích hợp. Không ít trường hợp phải cấy máu nhiều lần mới phân lập được vi khuẩn gây bệnh, nhất là các trường hợp trước đó đã dùng kháng sinh. Ngoài ra để tìm tác nhân gây bệnh có thể soi trực tiếp vi khuẩn, hoặc cấy dịch nơi ổ nhiễm trùng, cấy nước tiểu hoặc cấy phân trong những trường hợp nhiễm trùng đường tiêu hóa. Điều trị: ❖ Dùng kháng sinh tiêm đường tĩnh mạch.
Nếu là trường hợp vi khuẩn đã kháng thuốc thì phải dùng phối hợp 1-2 loại kháng sinh. Chọn lựa kháng sinh trị liệu ban đầu khi chưa có kết quả cấy máu thường dựa vào các biểu hiện lâm sàng. ❖ Dùng kháng sinh chống tụ cầu như Oxacillin, Vancomycin nếu có áp- xe, viêm cơ… ❖ Dùng kháng sinh chống não mô cầu như: Penicillin G, Cephalosporin thế hệ III nếu có kèm theo các nốt tử ban. ❖ Dùng kháng sinh chống vi khuẩn Gram âm như Cephalosporin thế hệ III.
❖ Khi có kết quả cấy máu và kháng sinh đồ, bác sỹ sẽ tiếp tục dùng kháng sinh cũ hay thay thế kháng sinh mới tùy vào đáp ứng trên lâm sàng và mức độ nhạy cảm đối với kháng sinh. SVTH- Phan Thị Bích Thùy Trang 18 Khóa luận tốt nghiệp GVHD-Ths.Bs Lê Quốc Thịnh ❖ Nếu bệnh nhân trụy tim mạch thì hồi sức chống sốc, rối loạn đông máu thì truyền máu, truyền các yếu tố chống đông máu. Sơ lược về kháng sinh: [2] 2. Khái niệm: Chất kháng sinh (antibiotic) là những chất đặc biệt do vi sinh vật tiết ra trong quá trình hoạt động sống mà ngay ở nồng độ thấp có khả năng ức chế hay tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh một cách có chọn lọc.
Phân loại: Chất kháng sinh sinh học có rất nhiều loại. Hiện nay được biết có trên 200 loại. ❖ Dựa vào nguồn gốc sản sinh, chia làm 4 loại chính sau: − Kháng sinh có nguồn gốc vi khuẩn như Subtilin, Bacitracin, Polymycin… do vi khuẩn Bacillus licheniformic, Bacillus subtilis…sản sinh. − Kháng sinh có nguồn gốc xạ khuẩn như Streptomycin, Tetracylin, Erythromycin…do xạ khuẩn Streptomyces streptomycidinum, Streptomyces rimosus… sản sinh.