Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae (giai đoạn ấu trùng của sán dây Taenia solium) là một bệnh truyền lây nguy hiểm giữa động vật và người. Khi lợn mắc bệnh, ấu trùng ký sinh gây tổn thương nghiêm trọng đến cơ vân, cơ tim, mắt và não bộ, dẫn đến tình trạng còi cọc, chậm lớn, liệt cơ hoặc rối loạn thần kinh. Ở người, việc ăn phải thịt lợn chưa nấu chín chứa ấu trùng còn sống sẽ dẫn đến việc phát triển thành sán dây Taenia solium trưởng thành ký sinh trong ruột non; nguy hiểm hơn, nếu người nuốt phải trứng sán từ môi trường hoặc do hiện tượng tự nhiễm, ấu trùng Cysticercus cellulosae sẽ di hành và ký sinh ở các mô, đặc biệt là hệ thần kinh trung ương gây nên bệnh ấu trùng sán dây lợn ở não (neurocysticercosis) với tỷ lệ tử vong và tàn tật cao.

Tại Việt Nam, bệnh phân bố rải rác ở nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc với tỷ lệ nhiễm trung bình từ 1,0% đến 7,2%, trong khi ở miền Nam là khoảng 4,3%. Tỉnh Bắc Ninh là địa bàn đồng bằng sông Hồng có ngành chăn nuôi lợn phát triển mạnh với tổng đàn đạt 315.740 con (thống kê tháng 10/2018), trong đó huyện Gia Bình có 35.740 con. Mặc dù công tác phòng chống các bệnh truyền nhiễm (dịch tả, tai xanh, tụ huyết trùng) đã được kiểm soát tốt, công tác giám sát bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh gạo lợn nói riêng chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng. Đáng chú ý, vào tháng 3/2019, sự việc 209 người dân (chủ yếu là trẻ em) tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có kết quả xét nghiệm dương tính với sán dây lợn đã gây hoang mang trong dư luận xã hội, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá thực trạng lưu hành mầm bệnh tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định tình hình mắc bệnh gạo ở lợn tại một số xã của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định tình hình mắc bệnh gạo ở đàn lợn giết mổ trên địa bàn nghiên cứu.
    2. Xác định tình hình mắc bệnh sán dây Taenia solium ở người tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lợn nuôi nông hộ và lợn giết mổ tại các điểm mổ nhỏ lẻ; mẫu phân của người dân sinh sống tại địa phương.
  • Phạm vi không gian: 8 xã và thị trấn thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (gồm các xã: Xuân Lai, Đại Lai, Đại Bái, Đông Cứu, Vạn Ninh, Nhân Thắng, Thái Bảo và thị trấn Gia Bình); công tác xét nghiệm được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y - Khoa Chăn nuôi Thú y (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và thu thập số liệu thực địa từ ngày 18/11/2019 đến ngày 27/5/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại học

Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý luận ký sinh trùng học động vật và thú y cộng đồng:

  • Vị trí phân loại học: Loài sán dây Taenia solium (Linnaeus, 1758) thuộc giống Taenia, họ Taeniidae, phân bộ Taeniata, bộ Cyclophyllidea, lớp Cestoda, ngành Plathelminthes (theo Nguyễn Thị Lê và cộng sự, 1996). Ấu trùng của loài này có tên khoa học là Cysticercus cellulosae.
  • Chu kỳ sinh học: Người là vật chủ chính duy nhất mang sán trưởng thành ký sinh ở ruột non, đồng thời có thể đóng vai trò là vật chủ phụ (vật chủ trung gian). Lợn đóng vai trò là vật chủ trung gian chủ yếu mang ấu trùng nang ký sinh ở các mô cơ và phủ tạng.
  • Căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn kiểm soát:
    • Quyết định số 87/2005/QĐ-BNN ngày 26/12/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy trình kiểm soát giết mổ động vật.
    • Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y (tiêu chuẩn: nếu mặt cắt cơ diện tích $40\text{ cm}^2$ có từ 1 đến 6 ấu trùng thì thịt, thực quản, tim phải luộc chín xử lý nhiệt; nếu mật độ trên 6 ấu trùng/$40\text{ cm}^2$ thì phải tiêu hủy toàn bộ thân thịt).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Phương pháp điều tra dịch tễ học mô tả:
    • Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc gồm các chỉ tiêu về phương thức chăn nuôi (nuôi nhốt, thả rông, bán chăn thả), nguồn thức ăn (thức ăn công nghiệp, thức ăn tận dụng, rau sống), cơ cấu giống lợn, hình thức giết mổ và tập quán vệ sinh sinh hoạt (loại nhà vệ sinh, thói quen ăn thịt sống/tái, ăn rau sống, tẩy giun sán định kỳ).
    • Quy mô khảo sát: Phỏng vấn trực tiếp tại 400 hộ chăn nuôi trên địa bàn 8 xã, thị trấn.
  2. Phương pháp kiểm tra lợn giết mổ phát hiện bệnh gạo:
    • Cỡ mẫu: 650 lợn giết mổ được chọn mẫu ngẫu nhiên tại các điểm giết mổ nhỏ lẻ thuộc 5 xã, thị trấn (Đại Lai, Vạn Ninh, Đại Bái, TT. Gia Bình, Xuân Lai).
    • Kỹ thuật khám thịt: Quan sát đại thể và dùng dao rạch các đường song song vào các nhóm cơ có tỷ lệ ký sinh cao (cơ đùi, cơ lưỡi, cơ hàm, cơ hoành, cơ liên sườn), cơ tim, tổ chức não và các cơ quan nội tạng.
    • Đánh giá cường độ nhiễm dựa trên số lượng nang ấu trùng quan sát được trên $40\text{ cm}^2$ lát cắt cơ.
  3. Phương pháp xét nghiệm mẫu phân người phát hiện sán dây Taenia solium:
    • Cỡ mẫu: Thu thập ngẫu nhiên 400 mẫu phân từ người dân thuộc 4 nhóm tuổi (<15 tuổi, 15–30 tuổi, 31–50 tuổi, >50 tuổi) tại 8 xã, thị trấn.
    • Kỹ thuật xét nghiệm: Thực hiện tại CDC Bắc Ninh bằng phương pháp soi tươi trực tiếp với dung dịch sinh lý $\text{NaCl } 0,9%$. Mẫu phân lưu ở nhiệt độ phòng 1 tuần để đốt sán phân giải giải phóng trứng, sau đó hòa đồng nhất trên lam kính và quan sát dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại $100\times$ ($10\times10$) nhằm tìm trứng sán dây kích thước đường kính khoảng $35\text{ }\mu\text{m}$, hình cầu, vỏ dày có vân phóng xạ ngang.
  4. Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc tính lây truyền nguy hiểm của Cysticercus cellulosae đối với sức khỏe cộng đồng. Phân tích sự kiện y tế tháng 3/2019 tại Bắc Ninh khi 209 người dân Thuận Thành nhiễm sán dây lợn. Xác định rõ mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu dịch tễ thú y và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở khuyến cáo các giải pháp an toàn sinh học cho người chăn nuôi tại huyện Gia Bình.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng hợp toàn diện các công trình nghiên cứu và tài liệu chuyên môn:

  • Đặc điểm hình thái và sinh học: Sán Taenia solium trưởng thành dài 2–7 m (có thể đạt 9 m), đầu có 4 giác bám và 2 hàng móc (22–32 móc); đốt già chứa tới 55.000 trứng với tử cung chia 7–12 nhánh. Nang ấu trùng C. cellulosae có dạng bọc dịch trong suốt kích thước 8–10 mm, mang một đầu sán lõm vào trong với 2 hàng móc (14–16 móc/hàng). Trứng sán có sức đề kháng cao, tồn tại 1 tháng ngoài tự nhiên, bị bất hoạt ở nhiệt độ $>70^\circ\text{C}$ hoặc dung dịch formol/cresyl 5% sau 2 giờ; ấu trùng bị diệt khi đun sôi miếng thịt $1\text{--}2\text{ kg}$ dày $5\text{--}6\text{ cm}$ trong 45–60 phút, hoặc xử lý lạnh $-15^\circ\text{C}$ trong 3 ngày, $-50^\circ\text{C}$ trong 4 ngày, hoặc nướng ở nhiệt độ $>65^\circ\text{C}$.
  • Tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế: Tổng thuật số liệu nhiễm bệnh gạo lợn tại các lò mổ phía Bắc (dao động 0,02% - 0,31% theo Nguyễn Quốc Doanh và cs.; 0,04% tại Hà Nội; 0,06% tổng hợp các tỉnh miền Bắc). Điểm lại các nghiên cứu quốc tế tại Kenya, Nigeria, Uganda, Cameroon về các yếu tố nguy cơ như chăn nuôi thả rông, thói quen đi vệ sinh ngoài trời và các thử nghiệm điều trị bằng Albendazole ($30\text{ mg/kg}$ thể trọng), Oxfendazole ($30\text{ mg/kg}$ thể trọng).
  • Điều kiện địa bàn nghiên cứu: Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Gia Bình (diện tích 10.752,8 ha, dân số 93.242 người, 14 đơn vị hành chính cấp xã/thị trấn, tổng đàn lợn 35.740 con) cùng hiện trạng hạ tầng chăn nuôi và thú y tại địa phương.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết vật liệu nghiên cứu gồm 400 phiếu điều tra, 650 lợn giết mổ, 400 mẫu phân người, các trang thiết bị mổ khám thú y và thiết bị xét nghiệm ký sinh trùng. Thiết lập quy trình thu thập mẫu, quy trình mổ khám kiểm tra thân thịt theo Quyết định 87/2005/QĐ-BNN, quy trình soi mẫu phân tìm trứng sán tại CDC Bắc Ninh và quy chuẩn đánh giá bệnh tích theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày các dữ liệu thực nghiệm và điều tra xã hội học thu thập được:

Bảng 1: Thực trạng phương thức chăn nuôi và giết mổ tại huyện Gia Bình (N = 400 hộ; 3.034 con lợn)

Chỉ tiêu khảo sát Phân loại Số hộ Tỷ lệ hộ (%) Số lợn (con) Tỷ lệ lợn (%)
Phương thức nuôi Nuôi nhốt hoàn toàn 400 100,00 3.034 100,00
Thả rông / Bán chăn thả 0 0,00 0 0,00
Loại thức ăn Thức ăn tận dụng 335 83,75 2.310 76,14
Thức ăn tổng hợp 58 14,50 604 19,91
Kết hợp cả 2 loại 7 1,75 120 3,95
Cho ăn rau sống 1 0,25 1 0,03
Không cho ăn rau sống 399 99,75 3.033 98,68
Cơ cấu giống Lợn lai 387 96,75 2.994 98,68
Lợn địa phương 1 0,25 6 0,20
Nuôi cả hai loại 12 3,00 34 1,12
Lợn ngoại thuần 0 0,00 0 0,00
Địa điểm mổ Giết mổ tại hộ chăn nuôi 276 69,00 955 31,48
Tại cơ sở giết mổ nhỏ lẻ 124 31,00 2.079 68,52

Bảng 2: Tập quán sinh hoạt liên quan đến nguy cơ lây nhiễm sán dây (N = 400 hộ)

Tập quán sinh hoạt Phân loại chi tiết Số hộ thực hiện Tỷ lệ (%)
Loại nhà vệ sinh Tự hoại 398 99,50
1 ngăn 1 0,25
2 ngăn 1 0,25
Thói quen ăn uống Ăn thịt chưa chín (tái, nem chua, nem bùi) 2 0,50
Không ăn thịt sống/tái 398 99,50
Thường xuyên ăn rau sống 195 48,75
Không ăn rau sống 205 51,25
Y tế dự phòng Đã từng đi xét nghiệm sán dây 2 0,50
Tẩy giun sán định kỳ hàng năm 109 27,25

Bảng 3: Phân bổ mẫu lợn giết mổ được kiểm tra theo địa bàn (Tổng số = 650 con)

Địa phương (xã/thị trấn) Số lợn kiểm tra (con) Tỷ lệ phân bổ (%)
Xuân Lai 200 30,78
Vạn Ninh 150 23,08
Thị trấn Gia Bình 150 23,08
Đại Lai 100 15,38
Đại Bái 50 7,68
Tổng cộng 650 100,00

Phân tích kết quả thực nghiệm cho thấy:

  • Tình hình mắc bệnh gạo ở lợn: Qua khám thịt 650 lợn giết mổ tại 5 xã/thị trấn, không phát hiện cá thể lợn nào mang ấu trùng Cysticercus cellulosae ở các nhóm cơ và phủ tạng kiểm tra.
  • Tình hình nhiễm sán dây ở người: Qua xét nghiệm 400 mẫu phân tại CDC Bắc Ninh, không phát hiện thấy trứng sán dây Taenia solium.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu về thực trạng chăn nuôi, tập quán vệ sinh và kết quả kiểm tra ký sinh trùng. Đưa ra 2 nhóm kiến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý thú y và người dân địa phương nhằm duy trì an toàn dịch tễ.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Chuyển biến phương thức chăn nuôi: 100% hộ dân khảo sát (400/400 hộ) áp dụng hình thức nuôi nhốt hoàn toàn, chấm dứt tập quán thả rông lợn; 96,75% hộ nuôi các giống lợn lai thương phẩm có thời gian nuôi ngắn; 99,75% hộ không cho lợn ăn rau sống.
  2. Cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường: 99,50% số hộ đã xây dựng và sử dụng nhà vệ sinh tự hoại, hạn chế tối đa nguy cơ mầm bệnh phát tán ra môi trường tự nhiên; 99,50% người dân không có thói quen ăn thịt sống/tái.
  3. Hiện trạng nhiễm bệnh: Kiểm tra thực tế trên 650 lợn giết mổ và xét nghiệm 400 mẫu phân người đại diện tại huyện Gia Bình cho thấy không ghi nhận ca nhiễm ấu trùng C. cellulosae trên lợn cũng như không phát hiện người nhiễm sán dây T. solium.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với cơ quan chuyên môn và chính quyền:
    • Tăng cường công tác kiểm soát giết mổ, đặc biệt là tại các điểm giết mổ tại gia đình (vốn chiếm 69,00% số hộ thực hiện), đưa hoạt động giết mổ vào các cơ sở tập trung đảm bảo vệ sinh thú y.
    • Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục sức khỏe cộng đồng về an toàn thực phẩm, vận động người dân duy trì thói quen ăn chín uống sôi và rửa sạch rau sống trước khi sử dụng.
    • Tăng cường vận động nhân dân định kỳ tẩy giun sán (hiện mới đạt 27,25% số hộ thực hiện, chủ yếu là trẻ em).
  • Đối với người chăn nuôi:
    • Tiếp tục duy trì phương thức nuôi nhốt cách ly, không cho lợn ăn rau sống hoặc thức ăn chưa qua nấu chín khi dùng nguồn thức ăn tận dụng (chiếm 83,75% số hộ).
    • Quản lý tốt nguồn phân, chất thải chăn nuôi và chất thải sinh hoạt.

Đóng góp của đề tài

Công trình cung cấp bộ số liệu thực địa cập nhật (giai đoạn 2019–2020) về dịch tễ học bệnh gạo lợn tại huyện Gia Bình ngay sau thời điểm xảy ra sự cố y tế liên quan đến sán dây lợn tại tỉnh Bắc Ninh, làm sáng tỏ mối liên hệ giữa sự thay đổi tích cực trong tập quán chăn nuôi nuôi nhốt, điều kiện vệ sinh tự hoại với việc cắt đứt vòng đời lây truyền của sán dây Taenia solium.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu mới dừng lại ở phạm vi 8 xã, thị trấn thuộc huyện Gia Bình, chưa bao phủ toàn bộ 14 đơn vị hành chính của huyện.
    • Phương pháp kiểm tra lợn giết mổ chủ yếu dựa vào quan sát đại thể và vết cắt cơ truyền thống, chưa áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học chuyên sâu (như ELISA) trên đàn lợn sống để phát hiện các trường hợp nhiễm ấu trùng thể ẩn hoặc cường độ rất thấp.
    • Phương pháp xét nghiệm phân trực tiếp ở người có thể có độ nhạy hạn chế nếu đốt sán chưa rụng hoặc trứng sán phân tán không đều trong mẫu phân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điều tra giám sát dịch tễ sang các huyện lân cận thuộc tỉnh Bắc Ninh.
    • Ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học ELISA hoặc sinh học phân tử PCR để nâng cao độ chính xác trong việc tầm soát kháng thể và kháng nguyên Cysticercus cellulosae trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, Thú y, Bác sĩ Y học Dự phòng và Ký sinh trùng học.
    • Cán bộ thú y cơ sở, nhân viên y tế dự phòng tại các trung tâm y tế huyện và chi cục chăn nuôi thú y cấp tỉnh.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng tổng hợp các đặc tính sinh học, khả năng đề kháng nhiệt độ/hóa chất của ấu trùng và trứng sán dây.
    • Quy trình mổ khám kiểm tra thân thịt lợn theo các quy định thú y hiện hành.
    • Mẫu phiếu điều tra dịch tễ học nông hộ và phương pháp luận khảo sát tập quán chăn nuôi kết hợp vệ sinh sinh hoạt cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nuôi nhốt và loại thức ăn chủ yếu của đàn lợn tại huyện Gia Bình theo kết quả điều tra là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra 400 hộ (với tổng đàn 3.034 con lợn), 100% số hộ thực hiện nuôi nhốt hoàn toàn, không có hộ nào thả rông. Về thức ăn, 83,75% số hộ sử dụng thức ăn tận dụng (chiếm 76,14% tổng đàn lợn), 14,50% số hộ sử dụng thức ăn tổng hợp (chiếm 19,91% tổng đàn), và 99,75% số hộ không cho lợn ăn rau sống.

2. Tiêu chuẩn xử lý thân thịt lợn mắc bệnh gạo theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT được khóa luận trích dẫn như thế nào?
Quy định nêu rõ: Nếu kiểm tra trên diện tích mặt cắt cơ $40\text{ cm}^2$ có từ 1 đến 6 ấu trùng thì thịt, thực quản, tim phải luộc chín (cắt miếng $1\text{--}2\text{ kg}$, dày $5\text{--}6\text{ cm}$ luộc trong 45 phút đến 1 giờ) trước khi sử dụng; nếu mật độ trên 6 ấu trùng/$40\text{ cm}^2$ thì toàn bộ thịt phải tiêu hủy bỏ.

3. Khóa luận đã kiểm tra bao nhiêu lợn giết mổ và xét nghiệm bao nhiêu mẫu phân người tại Gia Bình?
Tác giả đã kiểm tra thực tế 650 con lợn giết mổ tại 5 xã/thị trấn (Xuân Lai 200 con, Vạn Ninh 150 con, TT. Gia Bình 150 con, Đại Lai 100 con, Đại Bái 50 con) và xét nghiệm 400 mẫu phân người thuộc 4 nhóm tuổi tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh.

4. Phác đồ dùng thuốc điều trị bệnh gạo lợn được tác giả tổng thuật gồm những loại thuốc nào?
Tác giả dẫn liệu từ các nghiên cứu thú y khuyến cáo có thể điều trị bằng Albendazole (liều $30\text{ mg/kg}$ thể trọng) hoặc Oxfendazole (liều $30\text{ mg/kg}$ thể trọng), cho lợn uống liên tục trong 3 ngày, sau 24 ngày ấu trùng sẽ chết và thoái hóa.

5. Kết quả kiểm tra ký sinh trùng thực tế tại huyện Gia Bình trong thời gian nghiên cứu ghi nhận điều gì?
Trong 650 lợn giết mổ được kiểm tra và 400 mẫu phân người được xét nghiệm trong giai đoạn từ tháng 11/2019 đến tháng 5/2020, không phát hiện trường hợp lợn nào mắc bệnh gạo (Cysticercus cellulosae) và không có mẫu phân người nào dương tính với trứng sán dây Taenia solium.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Hà đã phản ánh trung thực thực trạng dịch tễ học bệnh gạo lợn và sán dây Taenia solium tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2019–2020. Dữ liệu thực nghiệm chỉ ra rằng nhờ tỷ lệ nuôi nhốt lợn đạt 100% cùng việc 99,50% hộ gia đình sử dụng nhà vệ sinh tự hoại, mầm bệnh đã được khống chế hiệu quả và không phát hiện ca nhiễm trên 650 lợn giết mổ cũng như 400 mẫu phân người khảo sát. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học xác đáng giúp địa phương tiếp tục duy trì các biện pháp kiểm soát giết mổ và an toàn sinh học nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.