MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay một số vật liệu có kích thước nano mét đang được quan tâm nghiên cứu chế tạo và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Sự ra đời của công nghệ nano đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, thực phẩm, hàng tiêu dùng, y học. Có thể thấy rằng y tế là một trong những ứng dụng lớn nhất của công nghệ nano trong việc điều trị bệnh ung thư, những hạt nano sẽ được đưa đến các tế bào ung thư bên trong cơ thể và được tăng nhiệt bằng tia lases hồng ngoại chiếu từ bên ngoài để tiêu diệt tế bào ung thư.
Khoa học và công nghệ nano là lĩnh vực chế tạo và nghiên cứu các tính chất quang, điện và từ của vật liệu có kích thước nano mét. Các vật liệu kích thước nano (từ 1 – 10 nm), thường được gọi là nano tinh thể (NC), có những tính chất rất đặc biệt so với vật liệu khối. Vật liệu nano có ít nhất một chiều có kích thước nano mét, chia thành 3 trạng thái là rắn , lỏng, khí. Hình dạng của vật liệu nano được chia thành 3 loại chính gồm: vật liệu nano không chiều - cả 3 chiều đều có kích thước nano, vật liệu nano một chiều - hai chiều có kích thước nano, một chiều tự do cho điện tử, vật liệu nano hai chiều - một chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên hai chiều.
phân loại vật liệu nano theo tính chất vật liệu: nano kim loại, nano bán dẫn, nano sinh học, nano từ tính. Nhờ khả năng thay đổi các tính chất quang và từ của NC thông qua kích thước và thành phần hoá học của chúng nên các NC đang được quan tâm nghiên cứu trong khoa học vật liệu và các lĩnh vực khác như vật lý, hoá học, sinh học, các ứng dụng kỹ thuật. và rất nhiều các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật khác. Hiện nay các NC hợp kim bán dẫn 3 thành phần như ZnCdS [1], ZnCdSe [2], CdSSe [3], CdTeSe [4].
đang được quan tâm và nghiên cứu mạnh mẽ, vì tính chất quang của chúng không những phụ thuộc vào kích thước hạt mà còn phụ thuộc vào thành phần hóa học của hợp kim. Do đó, có thể điều chỉnh tính chất quang của chúng thông qua việc điều chỉnh thành phần các chất trong hợp kim mà vẫn duy trì được kích thước của hạt hoặc cũng có thể thay đổi đồng thời cả kích thước và thành phần hóa học. Không những vậy, khi tiến hành đưa một số nguyên tố điển hình là các ion kim loại chuyển tiếp (KLCT) vào NC hợp kim (như ZnCdS:Cu [5], ZnCdS:Mn [6], CdTeSe:Ni [7].), cũng sẽ làm thay đổi các tính chất quang của chúng. Hơn nữa việc pha tạp các ion kim loại có từ tính sẽ 1 c làm cho các NC hợp kim ba thành phần có đồng thời cả tính chất điện từ và quang.
Chính vì vậy, các NC hợp kim pha tạp kim loại chuyển tiếp ( KLCT) đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới. Với nhiều ưu điểm vượt trội so với các NC hợp kim không pha tạp, chẳng hạn như tăng độ rộng dải phát xạ, độổn định quang và ổn định nhiệt cao, tăng thời gian phát quang, xuất hiện thêm tính chất điện từ…, các NC hợp kim pha tạp kim loại chuyển tiếp tạo ra một họ vật liệu mới rất có triển vọng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, nhiều vấn đề về công nghệ chế tạo và tính chất vật lý của loại vật liệu này còn chưa được hiểu biết đầy đủ do công nghệ chế tạo chúng khá phức tạp và sự tồn tại đồng thời tính chất điện từ và quang trong một vật liệu. Việc pha tạp các ion kim loại chuyển tiếp vào các NC hợp kim 3 thành phần để tạo ra các vật liệu vừa có tính chất điện từ và quang vẫn là một vấn đề mở và chưa được quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang và từ của các nano tinh thể bán dẫn ba thành phần CdTeSe pha tạp Ni”. Mục đích nghiên cứu - Chế tạo thành công các NC ba thành phần CdTeSe và CdTeSe:Ni - Nghiên cứu các tính chất quang và từ của chúng. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp thực nghiệm: Chế tạo, đo đạc, xử lí số liệu thực nghiệm và giải thích các tính chất vật lý.
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VÀ TÍNH CHẤT QUANG CỦA NANO TINH THỂ BÁN DẪN BA THÀNH PHẦN 1. Các dịch chuyển quang trong nano tinh thể bán dẫn. Tính chất quang của các NC xuất hiện từ các chuyển dời quang học được phép giữa các mức năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống được quan sát trong hình 1.Các chuyển dời quang học giữa các mức năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống trong NC bán dẫn [1, 4]. Các trạng thái điện tử được đánh dấu bằng các kí tự để biểu thị các lượng tử momen góc l, kí tự S (l=0); P (l=1); D (l=2).
Các trạng thái của điện tử có suy biến bậc 2(2l+1), ba trạng thái thấp nhất của điện tử là 1S, 1P và 1D. Ba trạng thái đầu tiên của là 1S3/2, 1P3/2 và 2S3/2. Chỉ số dưới biểu thị lượng tử mômen góc toàn phần F, F = Lh+J trong đó Lh là mômen góc của hàm bao và J là mômen góc của hàm Bloch của lỗ trống. Các trạng thái của suy biến bậc (2F+1).
Năng lượng của các chuyển dời quang học có thể được xác định từ phổ hấp thụ hoặc phổ kích thích huỳnh quang (PLE) [1]. Cấu trúc vùng năng lượng của bán dẫn. Đối với các bán dẫn nhóm II-VI, chẳng hạn như CdSe, CdS, CdTe … có cấu trúc vùng năng lượng là khá phức tạp. Các chuyển dời nội vùng giữa các mức lượng tử của vùng dẫn và vùng hóa trị parabol được giải thích đơn giản bằng các chuyển dời được 3 c phép giữa các mức năng lượng có cùng số lượng tử.
Vùng dẫn được xác định bởi các quỹ đạo s của ion kim loại nhóm II, trong khi đó vùng hóa trị có cấu trúc phức tạp hơn, bắt nguồn từ quỹ đạo p của S, Se, Te hoặc các nguyên tố nhóm VI. Vùng dẫn của các cấu trúc giả kẽm (zinc-blende) hoặc wurtzite có thể gần đúng là một parabol suy biến spin bậc 2 ở tâm vùng Brillouin (k = 0), trong khi vùng hóa trị suy biến bậc 6. Cấu trúc vùng của các chất bán dẫn có cấu trúc zinc-blende và wurtzite [5]. trình bày các vùng của bán dẫn khối đối với hai loại cấu trúc tinh thể lập phương và lục giác.
Vùng hoá trị suy biến bậc bốn với mômen góc tổng cộng J = 3/2 (mJ = ± 3/2; ± 1/2) và vùng hoá trị suy biến bậc hai với J = 1/2 (mJ = ±1/2) được tạo ra bởi sự kết hợp mômen góc orbital l = 1 và mômen góc spin s = 1/2. Sự tách năng lượng của hai trạng thái này với J = 3/2 và J = 1/2 tại k = 0 (điểm của vùng Brillouin) là do tương tác spin-orbital. Ba vùng con được định nghĩa là vùng lỗ trống nặng (HH), lỗ trống nhẹ (LH) và vùng spin orbital (SO) tách ra. Trường hợp của bán dẫn có cấu trúc lục giác, suy biến của các vùng con LH và HH ở k = 0 bị nâng lên do bởi trường tinh thể và sự bất đối xứng của cấu trúc mạng tinh thể [1].
Công nghệ chế tạo các nano tinh thể bán dẫn ba thành phần Hiện nay, việc nghiên cứu NC hợp kim 3 thành phần còn đang bị hạn chế, khó khăn lớn nhất trong các nghiên cứu là làm thế nào để tổng hợp được các NC hợp kim có cấu trúc mong muốn đó là phân bố đồng đều. Để có được hợp kim có cấu trúc phân bố đồng đều thì tốc độ tăng của hai thành phần nguyên liệu phải bằng nhau và các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của một thành phần này không ảnh hưởng đến sự phát triển của thành phần kia. Ngoài ra, cấu trúc và liên kết của hai vật liệu phải tương tự nhau để 4 c cho phép chúng trộn lẫn nhau dễ dàng, nếu không sẽ hình thành cấu trúc khác nhau, ví dụ cấu trúc lõi/vỏ hoặc cấu trúc hai NC hai thành phần. Trong quá trình tổng hợp các NC CdSe và CdSe/ZnSe, Zhong và các cộng sự [6] của mình đã phát hiện ra rằng: Ban đầu ở nhiệt độ thấp họ thu được các NC có cấu trúc lõi/vỏ, nhưng khi nhiệt độ tăng cao thì cấu trúc lõi/vỏ nhanh chóng biến đổi thành cấu trúc hợp kim NC ZnyCd1-ySe.
Quá trình biến đổi từ cấu trúc lõi/vỏ thành cấu trúc hợp kim đã được chứng minh thông qua việc nghiên cứu sự thay đổi đỉnh phát xạ theo sự thay đổi của nhiệt độ.3 chỉ ra rằng cấu trúc lõi/vỏ hình thành ở nhiệt độ dưới 270oC, nhưng cấu trúc lõi/vỏ biến đổi rất nhanh thành cấu trúc hợp kim trong khoảng nhiệt độ từ 270oC đến 290oC và điều đó đã được chứng minh thông qua việc dịch chuyển đỉnh phổ phát xạ về phía bước sóng ngắn và ở nhiệt độ 270oC được gọi là “alloying point”. Quá trình thay đổi từ cấu trúc lõi/vỏ CdSe/ZnSe sang cấu trúc hợp kim ZnCdSe theo nhiệt độ phản ứng [6] Khi nhiệt độ thấp dưới 270oC, hình thành cấu trúc lõi/vỏ CdSe/ZnSe điều đó được thể hiện qua phổ huỳnh quang (PL) của NC dịch chuyển về phía bước sóng dài (sự dịch đỏ) nhưng do ion Zn2+ vẫn tiếp tục đi vào trong NC, khi nhiệt độ tăng lên đến 270oC bắt đầu hình thành hợp kim ZnyCd1-ySe có cấu trúc phân bố đồng đều phổ PL dịch chuyển về phía bước sóng ngắn (sự dịch xanh) và tương đối ổn định [2, 3]. S Acharya [7], đã nghiên cứu tính chất động lực học của quá trình biến đổi này và đã đưa ra kết luận rằng cơ chế hình thành hợp kim liên quan đến sự phân ly liên kết của các ion Zn2+ và Se2- và sự khuếch tán của ion Zn2+ vào trong mạng nền CdSe. Ở nhiệt độ cao cấu trúc lõi/vỏ CdSe/ZnSe biến thành cấu trúc hợp kim ZnyCd1-ySe có thể 5 c là do quá trình biến đổi nhanh của các ion khuếch tán.
Các tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tới cấu trúc lõi/vỏ của nanorods ở nhiệt độ 270oC và đã quan sát được sự thay đổi đỉnh phát xạ theo thời gian ủ nhiệt. Sự dịch chuyển đỉnh phổ phát xạ về phía bước sóng ngắn khi thời gian ủ nhiệt của phản ứng tăng là do có sự sát nhập về độ rộng vùng cấm của ZnSe vỏ và CdSe lõi.