Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Trên thế giới Vấn đề giao đất lâm nghiệp đã được các nước trên thế giới quan tâm thực hiện từ rất lâu, có thể điểm qua tình hình giao đất lâm nghiệp tại một số quốc gia như sau: - Indonesia: Mỗi gia đình ở gần rừng được khoán 2.500 m2 đất trồng cây, trong 2 năm đầu được phép trồng lúa cạn, hoa màu trên diện tích đó và được hưởng toàn bộ sản phẩm hoa màu không phải nộp thuế. Công ty lâm nghiệp cho nông dân vay vốn dưới hình thức cung cấp giống, phân hóa học, thuốc trừ sâu, sau khi thu hoạch người nông dân phải trả đầy đủ toàn bộ số vốn đã vay, còn phân hóa học và thuốc trừ sâu chỉ phải trả 70%. Trong trường hợp rủi ro, nếu mất mùa thì không phải trả vốn vay đó.
Ngoài ra, nhà nước còn hỗ trợ một phần kinh phí để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Hướng dẫn kỹ thuật nông lâm nghiệp được thực hiện thông qua các hoạt động khuyến lâm, tổ chức làm thí điểm, học tập rút kinh nghiệm và triển khai trên diện rộng [16]. - Thụy Điển: nhà nước quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các công ty lớn sở hữu 25%, còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng và đất rừng còn lại thuộc sở hữu của các hộ tư nhân. - Nhật bản: Có 3 hình thức sở hữu đất lâm nghiệp đó là sở hữu nhà nước, sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân: + Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha chiếm 31,2% rừng và đất rừng của cả nước, những diện tích rừng và đất rừng này chủ yếu ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình hiểm trở,… thuộc quyền quản lý của Cục Lâm nghiệp - Bộ Nông lâm thủy sản.
m 6 + Các tổ chức chính quyền địa phương sở hữu trên 2,7 triệu ha chiếm 10,74%. Các công ty tư nhân và các hộ gia đình sở hữu 14,6 triệu ha, chiếm 58,1%. Có tới 88% chủ rừng là các hộ tư nhân, trong đó phần lớn các chủ rừng sở hữu dưới 5 ha đất lâm nghiệp nên các chủ rừng này liên kết với nhau thành các hội. Hiện nay, ở Nhật Bản có khoảng 1.430 Hội các chủ rừng với 1.
Chính phủ có chương trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp thông qua Hội các chủ rừng, ngoài ra các chủ rừng còn được ưu tiên vay vốn để sản xuất kinh doanh với lãi xuất thấp, đồng thời còn được giảm thuế đất lâm nghiệp [18]. - Ở Pháp: rừng tư nhân chiếm khoảng 10 triệu ha và rừng nhà nước chỉ chiếm khoảng 4 triệu ha. Trong 10 triệu ha rừng tư nhân thì có một nửa thuộc về 1,5 triệu tiểu chủ. - Philippin: Chính sách lâm nghiệp xã hội “Institutional Social Forestry Program” (ISFP) năm 1980 của chính phủ nhằm dân chủ hóa việc sử dụng đất rừng công cộng và khuyến khích việc phân chia một cách hợp lý các lợi ích từ rừng, chương trình này nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng người dân sống phụ thuộc vào đất rừng thông qua đó bảo vệ và phát triển tốt tài nguyên rừng [16].
- Trung quốc: Theo hiến pháp của nhà nước vào đầu những năm 1980, Chính quyền nhà nước từ trung ương tới tỉnh và huyện bắt đầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ rừng là các tổ chức nhà nước, tập thể và tư nhân. Mỗi hộ nông dân được phân phối một diện tích đất rừng để sản xuất kinh doanh “Luật lâm nghiệp quy định đơn vị tập thể và nông dân trồng cây trên đất mình làm chủ thì hoàn toàn được hưởng sản phẩm trên mảnh đất đó”. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, m 7 chính phủ đã áp dụng chính sách nhạy bén thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại rừng và kinh doanh đa dạng để có lợi trước mắt và lâu dài. Có 2 hình thức sở hữu đất đai là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể (sở hữu cộng đồng).
Sở hữu nhà nước đối với đất trang trại quốc doanh hoặc đất do nhà nước sử dụng, sở hữu tập thể đối với đất của các làng nông thôn [16]. - Thái Lan: hiện nay, Thái Lan đang thí điểm giao rừng cho cộng đồng, đã giao được khoảng 200.000 ha ở gần các điểm dân cư, nhà nước trợ cấp tối đa cho mỗi hộ 50 rai và tối thiểu là 5 rai (1 rai = 1. Thái lan dự kiến áp dụng một chính sách nông lâm nghiệp toàn diện, chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi trường và người nghèo, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở [16]. - Phần Lan: Sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng ở Phần Lan mang tính truyền thống, có tới 2/3 diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu của tư nhân và có khoảng 430.000 chủ rừng, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 33 ha.
- Ở Nepal: nhà nước cho phép chuyển giao một số khu rừng có diện tích lớn ở vùng núi trung du cho các cộng đồng, thông qua tổ chức chính quyền cấp cơ sở, thành lập các thành viên ủy ban về rừng cam kết quản lý bảo vệ các khu rừng ở địa phương [9]. Từ năm 1978 chính quyền đã trao quyền bảo vệ và quản lý rừng cho người dân địa phương để thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng. Panchayat là tổ chức quản lý thấp nhất. Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận ra các Panchayat không phù hợp với việc quản lý và bảo vệ rừng do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có các nhu cầu, sở thích khác nhau.
Tiếp sau, Nhà nước đã phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng. Quyền sở hữu rừng chia ra làm 2 loại là sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước. Trong sở hữu nhà nước chia rừng thành các quyền sử dụng khác nhau: rừng cộng đồng theo các nhóm sử dụng, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ, rừng nhà nước. Nhà nước công nhận m 8 quyền pháp nhân và quyền sở và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng rừng.
Trong vòng 14 năm, Nhà nước giao khoảng 9000 ha rừng quốc gia cho các cộng đồng. Tính đến năm 1992 đã có 1908 nhóm sử dụng rừng hình thành. Từ năm 1993, chính sách lâm nghiệp mới nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ cho các nhóm sử dụng rừng, thay đổi chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn [2]. - Ở Ấn Độ: vào những năm 70 của thế kỷ 20, Ấn Độ đã phát triển lâm nghiệp xã hội (LNXH), năm 1986 Ấn Độ hoàn thành mục tiêu phát triển LNXH tại các bang khác nhau.
Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất rừng của chính phủ. Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có sự thay đổi nhiều giữa các bang, gỗ được sử dụng làm chất đốt ở Bi Har và được phép sử dụng ở Orissa thì ở Rajas than có đến 60% nguồn thu nhập của cộng đồng là từ buôn bán gỗ [9]. Tại Ấn Độ, liên kết quản lý rừng đã đem lại những lợi ích nhất định cho cả 2 bên: Chính phủ (cơ quan lâm nghiệp) và cộng đồng địa phương. Chính sách lâm nghiệp quốc gia 1988 khẳng định sự tham gia của người dân vào sự phát triển và bảo vệ rừng và khẳng định một trong những điểm thiết yếu của quản lý rừng chính là các cộng đồng tại rừng phải được khuyến khích để tự nhận biết vai trò của bản thân họ trong phát triển và bảo vệ rừng mà họ được hưởng lợi từ đó.
Một số quy định cụ thể về cơ chế hưởng lợi được thể hiện như sau: - Quyền sử dụng đất rừng và các lợi ích khác chỉ dành cho những người hưởng lợi thuộc tổ chức thiết chế làng xã tái tạo và bảo vệ rừng. Những tổ chức này có thể là những Panchayat hay hợp tác xã hay hội đồng lâm nghiệp làng. Những nhóm hưởng lợi có thể được hưởng những sản phẩm như: cỏ, m 9 cành ngọn, và các vật phẩm khác. Nếu họ bảo vệ rừng thành công, họ có thể được hưởng một phần từ thu nhập do bán gỗ đã thành thục.
Ví dụ, chính quyền Bengal (và có thể các bang khác) đã cho phép các cộng đồng địa phương được hưởng 25% tổng thu nhập từ bán gỗ. - Cùng với cây làm củi, thức ăn gia súc và gỗ, cộng đồng địa phương cũng được phép trồng các cây ăn quả sao cho phù hợp với quy hoạch trồng rừng chung, và cả cây bụi, cây họ đậu và cỏ để nhằm đáp ứng nhu cầu tại chỗ, bảo vệ đất và nguồn nước, làm giàu rừng. Ngay cả cây dược dược liệu cũng có thể được trồng theo yêu cầu. - Cây gỗ chỉ được khai thác cho đến khi cây đã trưởng thành.
Các cơ quan lâm nghiệp cũng không được chặt cây trên đất lâm nghiệp đang do cộng đồng bảo vệ trừ trường hợp theo kế hoạch. Bên cạnh những nghiên cứu về giao đất lâm nghiệp thì một vấn đề khác cũng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đó là cơ chế hưởng lợi ích từ việc giao đất lâm nghiệp. Đối tượng hưởng lợi là thuật ngữ bao trùm “mọi cá nhân và tổ chức có quyền lợi và có thể bị ảnh hưởng bởi một hoạt động, một chương trình phát triển hay một hoàn cảnh, hoặc là những người có ảnh hưởng hay tác động tới hoạt động hay chương trình đó” (Hobley, 1996) [19]. Trong một số trường hợp đối tượng hưởng lợi vừa có thề chịu ảnh hưởng vừa có thể gây ảnh hưởng tới hoạt động đó.
Khi nghiên cứu một quá trình thay đổi trong quá trình quản lý lâm nghiệp ở Ấn Độ và Nepal, Hobley (1996) đã phân loại các đối tượng hưởng lợi thành đối tượng hưởng lợi trực tiếp và đối tượng hưởng lợi gián tiếp, theo mức độ phụ thuộc vào tài nguyên. Theo cấp hành chính, đối tượng hưởng lợi có thể hoạt động ở cấp vi mô (địa phương) hay vĩ mô (trung ương). Tác giả m 10 cũng đi sâu vai trò và sự tham gia của các nhóm đối tượng hưởng lợi trong quản lý rừng qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.