Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về nghèo 1. Khái niệm nghèo của thế giới Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương" (UNDP 2012( UNDP ( 2012), Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế Châu Á và Thái Bình Dương [23]). Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về đói nghèo như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại" ( UNDP ( 2012), Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế Châu Á và Thái Bình Dương [23].
Ngân hàng thế giới WB (World bank) cho rằng: Ngưỡng nghèo là mốc mà nếu cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dưới mốc này thì bị coi là nghèo. Ngưỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần nghèo của một quốc gia. Theo WB thì đói nghèo là những hộ không có khả năng chi trả cho số hàng hóa lương thực của mình đủ cung cấp 2.100 kcalo/người/ngày ( Ngân hàng thế giới ( 2004), Chính sách phát triển vùng của một số nước châu Á [12]. Thế giới thường dùng khái niệm "nghèo khổ" mà không dùng khái niệm "nghèo đói" như Việt Nam và nhận định nghèo khổ theo bốn khía cạnh là thời gian, không gian, giới và môi trường.(Bộ kế hoạch và đầu tư (2005), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo [2]) n 5 Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người có mức sống dưới "chuẩn" trong một thời gian dài, cũng có một số người nghèo khổ tình thế như người thất nghiệp, những người mới nghèo do suy thoái kinh tế hoặc thiên tai, địch họa, tệ nạn xã hội, rủi ro.
Về không gian: nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có phần lớn dân số sinh sống. Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng tăng. Về giới: người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới, nhiều hộ gia đình nghèo do phụ nữ làm chủ hộ. Trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ hộ thì phụ nữ vẫn khổ hơn nam giới.
Về môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói nghèo đều sống ở những vùng khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và xuống cấp của môi trường đều đang ngày càng trầm trọng thêm. * Chỉ tiêu và chuẩn nghèo thế giới Khi đánh giá nước giàu nghèo trên thế giới, giới hạn đói nghèo được thể biểu hiện bằng chỉ tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GDP). Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu cho rằng, nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội. Trong thực tế nhiều quốc gia phát triển có thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề nghèo.
Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào thu nhập chưa đủ căn cứ để đánh giá. Cho nên bên cạnh chỉ tiêu này tổ chức hội đồng phát triển Hải ngoại (ODC) đưa ra chỉ số chất lượng cuộc sống (PQLI) để đánh giá, bao gồm 3 chỉ tiêu cơ bản sau: Tuổi thọ - Tỷ lệ mù chữ - Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm ba chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trong năm. Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận các nước giàu, nghèo tương đối chính xác và khách quan.
n 6 Nói chung quan niệm của nhiều nước cho rằng, hộ nghèo có mức thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập trung bình của xã hội. Với quan điểm này hiện nay trên thế giới có khoảng 1,12 tỷ người (25%) đang sống trong tình trạng nghèo khó, tức là sống dưới 420USD người/năm hoặc là 35USD/người/tháng mà ngân hàng thế giới đã ấn định. Song các nước đang phát triển mỗi nước có một chuẩn mực khác nhau như: Pakistan là 6USD/người/tháng, Inđônnêxia là 6USD/người/tháng, Malaixia là 28USD/người/tháng, Neepan là 9 USD/người/tháng. Cũng có những nước dùng chỉ tiêu kcalo/người/tháng và ngân hàng thế giới đã xác định chuẩn nghèo đói là mức dùng lương thực, thực phẩm chỉ đủ cung cấp một lượng calo dưới 2100 kcalo/người/tháng.
Khái nghèo ở Việt nam Ở Việt Nam có rất nhiều quan điểm đưa ra xung quanh vấn đề khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực nghèo đói. Tuy nhiên, các quan điểm tập trung nhất vào khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo do Bộ lao động Thương binh và xã hội ban hành ( Bùi Thế Cường ( 2010), Từ điển xã hội học Oxford, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội[9]). Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng trên mọi phương diện. Nghèo được chia thành 2 dạng là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế. - Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của địa phương, ở một thời kỳ nhất định. * Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam Để đánh giá tình trạng nghèo đói ở Việt Nam, Tổng cục thống kê và Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội đã đưa ra chỉ tiêu và một số chuẩn mực xác định hộ nghèo, đói như sau: n 7 - Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân một đầu người 1 tháng (hoặc 1 năm) được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực (gạo) tương ứng một giá trị hay hiện tượng đánh giá. Khái niệm thu nhập ở đây là thu nhập thuần túy (tổng thu trừ đi tổng chi phí sản xuất).
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu hàng tháng là chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức đói nghèo. - Chỉ tiêu phụ: là dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại. Mặc dù lấy chỉ tiêu thu nhập cơ bản không ổn định như nước ta thì rất cần thiết sử dụng hình thức hiện vật, phổ biến là quy ra gạo tiêu chuẩn (gạo thường) tương ứng với một giá trị nhất định. Việc sử dụng hiện vật quy đổi tương ứng với một giá trị được so sánh với mức thu nhập của một người dân theo thời gian và không gian được dễ dàng.
Đặc biệt đối với người nghèo nói chung và người nghèo ở nông thôn nói riêng, chỉ tiêu khối lượng gạo bình quân/người/tháng tương ứng với lượng giá trị nhất định là có ý nghĩa thực tế. Từ năm 1993 đến nay, Chính phủ đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo đói của Việt Nam cho phù hợp với tình hình phát triển chung của xã hội. Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2010 và 2011 - 2015 xác định như sau: Giai đoạn 2006 -2010: Đối với khu vực nông thôn: thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo. Đối với khu vực thành thị: thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo (Chính phủ 2005 [6]).
Giai đoạn 2011 - 2015 Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ- TTg, ngày 30 tháng 01 năm 2011 về việc Ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 là: (Chính phủ (2011)[7]). + Khu vực nông thôn là 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000đ/người/năm) trở xuống. n 8 + Khu vực thành thị là 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000đ/người/năm) trở xuống. + Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đ/người/tháng.
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đ/người/tháng. Khái niệm nghèo đa chiều Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” (Oxfam và ActionAid(2012).
Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia tại số tại một số cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam, Báo cáo tổng hợp 5 năm (2007- 2011) [17]. Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (Bùi Thế Cường (2010), Từ điển xã hội Oxford, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội [9].) Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch n 9 vụ xã hội cơ bản Oxfam và ActionAid (2012) (Oxfam và ActionAid(2012).
Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia tại số tại một số cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam, Báo cáo tổng hợp 5 năm (2007- 2011) [17]. Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.