Đặt vấn đề Hiện nay cả nước có 10.816 ha là rừng tự nhiên trong đó rừng tự nhiên là rừng sản xuất là 4. Những năm trước đây do kế hoạch sản lượng khai thác lớn nên rừng tự nhiên đã bị khai thác quá mức làm cho chất lượng rừng bị suy thoái. Hiện nay chất lượng rừng sản xuất là rừng tự nhiên rất thấp, diện tích rừng giàu và trung bình chỉ chiếm khoảng 8%, trong khi đó trạng thái rừng phục hồi, rừng chưa có trữ lượng chiếm khoảng 61% diện tích có rừng tự nhiên của cả nước. Trong khi đó, nhu cầu của người dân địa phương đặc biệt là người dân miền núi về gỗ từ rừng tự nhiên để làm nhà, đồ mộc dân dụng rất lớn, do vậy hiện nay người dân vẫn khai thác gỗ rừng tự nhiên để sử dụng, nhưng Nhà nước không kiểm soát được.
Đa số các chủ rừng nhà nước được giao kế hoạch khai thác rừng không có sự phối kết hợp với chính quyền địa phương trong việc kiểm tra giám sát. Bên cạnh đó việc thiếu các biện pháp đồng bộ, thiếu sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước để ngăn chặn, kiểm soát gỗ và sản phẩm gỗ từ khi khai thác đến chế biến và tiêu thụ cũng là một nguyên nhân dẫn đến mất rừng và suy thoái rừng tự nhiên trong những năm qua. Trước tình hình đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng "Đề án Tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp" với mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh. Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần xóa đói giảm nghèo cải thiện sinh kế… Hiện nay công tác phát triển rừng kinh tế trên địa bàn Hà Giang nói riêng v à các tỉnh miền núi phía bắc nói chung vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn và tồn tại, ảnh hưởng đến quá trình phát triển rừng kinh tế.
Chưa có định n 2 hướng phát triển và kế hoạch cụ thể. Việc xác định các mục tiêu và các yếu tố kỹ thuật phù hợp cho khu vực còn chưa rõ ràng, từ đó dẫn đến chất lượng rừng trồng còn thấp nên chưa thể mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực. Bên cạnh đó, công tác lựa chọn loài cây cho một số rừng trồng chưa thật phù hợp với thổ nhưỡng và tiểu vùng khí hậu dẫn đến rừng phát triển kém. Các cơ quan chuyên môn chưa làm tốt công tác tư vấn cho người dân và nhà đầu tư trong việc lựa chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và tiểu vùng khí hậu của từng vùng sinh thái, dẫn đến nhiều diện tích rừng sau khi trồng 3 – 5 năm không phát triển được, gây thiệt hại về kinh tế và giảm lòng tin của các nhà đầu tư.
Cơ cấu cây trồng của rừng kinh tế chưa đa dạng, bên cạnh đó tình trạng sử dụng đất của các hộ gia đình trong quá trình trồng rừng kinh tế còn manh mún, nhỏ lẻ không theo quy hoạch. Tình trạng trồng rừng manh mún, nhỏ lẻ không theo quy hoạch chung sẽ gây nhiều khó khăn cho quá trình khai thác rừng sau này. Chế biến lâm sản trên địa bàn của tỉnh tuy phát triển nhưng chủ yếu là tự phát, chưa bền vững, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược; các doanh nghiệp chế biến lâm sản chưa xây dựng được thương hiệu của các sản phẩm từ rừng trồng. Trong những năm qua công tác lâm nghiệp của tỉnh Hà Giang không ngừng phát triển, diện tích rừng không ngừng tăng lên qua từng năm nâng độ che phủ rừng từ 29,7% năm 1993 lên 54,3% năm 2014 chủ yếu được thực hiện qua các chương trình, dự án như: Chương trình 327, Dự án 661, Dự án phát triển nông thôn miền núi, Dự án chia sẻ, 135, Dự án DPPR, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
hỗ trợ người dân trồng rừng, bảo vệ rừng. Trong đó 3 chương trình lớn hỗ trợ phát triển lâm nghiệp xuyên suốt giai đoạn là Chương trình 327, dự án 661 và hiện nay là Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020. Mặc dù vậy, nhìn chung hiệu quả của các chương trình, dự án phục hồi và phát triển rừng còn hạn chế do chưa phát huy được hiệu quả n 3 của các loại cây bản địa có ưu thế về điều kiện sinh thái. Chính vì vậy, để phát triển lâm nghiệp một cách bền vững trên cơ sở yêu cầu phải lựa chọn cây trồng phù hợp với những điều kiện thực tế tại địa phương, khắc phục được những tồn tại hạn chế trong thực hiện công tác trồng rừng và góp phần nâng cao giá trị cây bản địa cho mục đích trồng rừng, đề tài “Nghiên cứu thực trạng phát triển rừng trồng Sa mộc (Cunninghamia lanceolata Hook) tại huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang” được đề xuất thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ được thực trạng phát triển trồng rừng Sa mộc tại huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang. - Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với phát triển trồng rừng Sa mộc tại khu vực nghiên cứu làm cơ sở đề xuất biện pháp phát triển trồng rừng Sa mộc tại địa phương. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Trên rừng trồng Sa mộc thuần loài ở 2 tuổi: + Tuổi trung bình thường khai thác sử dụng 13 tuổi; + Tuổi khai thác gỗ lớn 21 tuổi. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hiện trạng trồng rừng, các chỉ tiêu sinh trưởng, hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ Sa mộc và ảnh hưởng của chính sách phát triển rừng trồng đến người dân của huyện Hoàng Su Phì.
Địa điểm và thời gian tiến hành 4.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu Xã Nậm Ty và xã Bản Péo, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Thời gian nghiên cứu Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016. n 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Để nâng cao năng suất và duy trì tính ổn định, bền vững của rừng trồng kinh tế,nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu điển hình thuộc các chuyên đề sau đây: 1.
Những nghiên cứu về lập địa Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO, 1984) đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào bốn nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: 1) khí hậu, 2) địa hình, 3) loại đất, 4) hiện trạng thực bì. Điển hình là các công trình nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans (1974 và 1992), Pandey (1983), Golcalves J.M và cộng sự (2004) [33]. Khi nghiên cứu đặc điểm đất ở Châu Phi, Laurie, Lulian Evans (1974) [31] cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về độ dầy tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Vì thế, khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất ấy cũng khác nhau.
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P.patula ở Swaziland, Evans J. (1974) [31] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ khá chặt (R=0.81) với các yếu tố địa hình và đất đai thông qua phương trình tương quan: Y= -18,75 + 0,0544x3 - 0,000022x32 + 0,0185x4 + 0,0449x5 + 0,5346x11. Trong đó: Y: Là chiều cao vút ngọn ở thời điểm 12 tuổi (m); x3: Là độ cao so với mặt nước biển (m); n 5 x4: Là độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%); x5: Là độ dốc tuyệt đối của nơi trồng rừng (%); x11: Là độ phì của đất đã được xác định. Thông qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng.
Những nghiên cứu về giống Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyptus grandis đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn đựơc giống Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm (Pandey, 1983) [37]. Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E. grandis đạt từ 35-40m3/ha/năm, giống E.
urophylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên đến 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikenmori, 1988) [30]. Những nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như: Công trình nghiên cứu của Evans, J.(1992) [32], tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau (2985 ;1680 ;1075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao. n 6 Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp.
Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và năng suất rừng trồng Bón phân cho cây trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) [36] ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50%.