CHƯƠNG 1.1 Thực trạng sản xuất sữa gạo tại nhà máy Lavina food, Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn.1 Quy trình sản xuất của nhà máy Gạo lứt sạch Xay, nghiền Phối trộn với nước Enzyme thủy Gia nhiệt 600C phân TB Gia nhiệt đến 1000C Làm nguội về 600C Ly tâm Bã gạo Dịch gạo Nguyên liệu phụ, Phối trộn phụ gia Đồng hóa, tiệt trùng Rót vô trùng Sữa gạo dạng lỏng 1 1.2 Tồn tại của dây chuyền Ngoài sản phẩm chính là sữa gạo lứt giàu protein Ojita còn có sản phẩm phụ là bã gạo, sản lượng 4 – 5 tấn/ngày. Thành phần hóa học của bã gạo tại Lam Sơn như sau: Bảng 1-1: Bảng thành phần bã gạo tại nhà máy Lavina food, Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn TT Tên chỉ tiêu ĐVT Phương pháp Kết quả phân tích 1 Hàm lượng protein g/100g AOAC 996.11 11,2 2 Hàm lượng tinh bột g/100g NIFC.03 8,93 3 Hàm lượng Lipit g/100g NIFC.04 1,32 4 Hàm lượng Gluxit g/100g NIFC.3 Phương án sử lý Qua bảng trên ta thấy rằng: Hàm lượng protein trong bã gạo đang ở mức cao 11,2 %, tuy nhiên lượng protein này chưa được sử dụng có hiệu quả mà đang được bán làm thức ăn gia súc với giá rất rẻ từ 500 – 800 đồng/kg. Vì vậy mục tiêu của đề tài là phải tìm ra phương pháp để thu hồi lượng protein này, giảm protein theo bã thải ra ngoài. Để thu hồi protein có hai giải pháp đưa ra: Một là: Nghiên cứu phương án thủy phân protein trong bã gạo, sau đó thu hồi và chế biến (có thể sấy khô) hoặc phối trộn dịch protein thu được vào trong sản phẩm để tăng hàm lượng protein trong sản phẩm hoặc giảm protein cần phải bổ xung.
Hai là: Nghiên cứu thủy phân protein gạo ngay trong quá trình thủy phân tinh bột để thủy phân protein, từ đó giảm tăng hiệu suất thu hồi protein, giảm hàm lượng protein còn lại trong bã. Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ thực hiện các thí nghiệm để lựa chọn ra quy trình thủy phân protein phù hợp với điều kiện thực tế đem lại hiệu quả cao.2 Tổng quan về nguyên liệu gạo đưa vào sản xuất Nguyên liệu gạo dùng cho quá trình sản xuất là gạo lứt Japonica JO2, được trồng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.1 Thành phần dinh dưỡng gạo lứt Japonica JO2 Trong gạo lứt Japonica J02 có chứa tinh bột, protein, lipid, cacbohydrate, chất xơ và chứa GABA. Gạo lứt có chứa 83 % tinh bột, 8,6% protein, lipid 2,2%, cenlluloza 1,1 % và tro 1,4% (tính theo chất khô). Hàm lượng GABA chiếm 32 mg/100g, thành phần cụ thể như bảng sau: Bảnh 1-2: Bảng thành phần hóa học của gạo Japonica JO2 TT Thành phần hóa học Đơn vị tính Kết quả 1 Độ ẩm % 14,5±0.2 2 Tinh bột % theo chất khô 83,7±0.7 3 Carbohydrate % theo chất khô 3,3±0.1 4 Protein % theo chất khô 8,6±0.1 5 Lipid % theo chất khô 2,2±0 6 GABA mg/100g 32±1.4 7 Xenllulose % theo chất khô 1,1±0.1 8 Ash % theo chất khô 1,4±0 1.2 Tính an toàn của gạo lứt Japonica JO2 Thành phần kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, độ tố nấm hầu hết không phát hiện hoặc ở mức thấp hơn tiêu chuẩn cho phép.
Điều này khằng định tính an toàn của gạo lứt Japonica được dùng để sản suất sữa gạo. Chi tiết về hàm lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, độc tố nấm như bảng sau: Bảng 1-3: Bảng dư lượng kim loại nặng, thuốc trừ sâu, độc tấm nấm của gạo lứt JO2 TT Thành phần ĐVT Hàm lượng 1 Chì mg/Kg 0,072 2 Asen mg/Kg Không phát hiện 3 Cadimi mg/Kg Không phát hiện 4 Total Aflatoxin µg/Kg Không phát hiện 5 Aflatoxin B1 µg/Kg Không phát hiện 6 Carbaryl mg/Kg Không phát hiện 7 Chlorantraniliprole mg/Kg Không phát hiện 8 Chlordane mg/Kg Không phát hiện 3 9 Flutolanil mg/Kg Không phát hiện 10 Sulfuryl Fluoride mg/Kg Không phát hiện 11 Total mold and yeast CFU/g Không phát hiện 1.3 Tổng quan về bã gạo Trong quá trình sản xuất sữa gạo, syro gạo ngoài sản phẩm chính là sữa gạo, syro gạo còn có sản phẩm phụ là bã gạo. Đối với các nước sản xuất syro với sản lượng lớn như Trung quốc thì khối lượng bã gạo hàng năm lên đến hơn 200. Hàm lượng protein chiếm đến hơn 60 % theo chất khô, cao hơn trong đậu nành và bột cá [1].
Theo một nghiên cứu khác hàm lượng protein trong bã gạo chiếm đến 62,6g/100g mẫu [2], phần còn lại là chất béo, carbohydrat và tro. Các axit amin trong protein bã gạo là Glutamic, Prolin, Arginin, Aspartic, Leucin, và Lysin có thành phần thấp nhất. Hầu hết các axit amin thiết yếu trong bã gạo đáp ứng các yêu cầu cho trẻ em theo tiêu chuẩn của FAO và WHO [2] và cao hơn trong protein đậu nành. Bên cạnh đó protein gạo cũng dễ dàng tiêu hóa hơn protein đậu nành.
Giá trị tiêu hóa cuối cùng của protein isolate gạo là 96,66 % so với 91,41 % protein insolate của đậu nành. Vì vậy protein bã gạo là nguồn protein có thể thay thế cho protein đậu nành để đáp ứng nhu cầu sử dụng protein thực vật ngày càng tăng. Theo nhóm nghiên cứu của đại học Nachang Trung Quốc, hàm lượng protein bã gạo chiếm hơn 50% và cao hơn gấp 5 lần trong gạo. Tuy nhiên nguồn nguyên liệu giàu protein này đang được xem như chất thải rắn công nghiệp hoặc làm thức ăn cho gia xúc, làm phân bón [3].
Tại Việt Nam chưa có nhiều nhà máy sản xuất sữa gạo hoặc syro từ gạo, nên các nghiên cứu về bã gạo hầu như chưa có. Tại các cơ sở sản xuất sữa gạo, bã gạo hầu hết đều bán làm thức ăn gia xúc.1 Thành phần chính của bã gạo Trong bã gạo có chứa nhiều protein, gluxit, tinh bột, chất xơ v. Công nghệ sản xuất khác nhau, thành phần các dinh dưỡng trong bã gạo cùng khác nhau. Thành phần chính của bã gạo tại Công ty TNHH Hengtian Giang Tây 4 Trung Quốc thành phần protein chiếm đến khoảng 60% so với chất khô, thành phần cụ thể như bảng sau: Bảng 1-4: Bảng Thành phần gần đúng của bã gạo và protein isolate bã gạo tại công ty Hengtian (Trung Quốc)[2] TT Loại Protein Moiture Fat Ash Fiber Carbohydrate 1 RDP 62,62 ± 6,05 ± 14,07 ± 7,71 ± 4,10 ± 9,37 ± 0,04a 0,96b 0,05a 0,36a 0,07a 0,08a 2 RPI 87,38 ± 3,24 ± 0,78± 4,33± 0,40± 2,25± 0,20b 0,96a 0,02b 0,13b 0,39b 0,12b a,b giá trị trung bình trong cùng cột số mẫu bằng 3, sự sai khác có ý nghĩa ở p ≤ 0,05.2 Thành phần protein trong bã gạo Trong protein bã gạo có chứa gần như đầy đủ các axitamin của gạo.
Nó bao gồm các nhóm axitamin như sau. Albumin Albumins gạo là protein hòa tan trong nước, đông tụ bởi nhiệt, có liên kết chéo disulfide thấp hơn, và chiếm 2-6% protein hạt và 24-37% protein cám. Albumins gạo dễ tiêu hóa và hấp thụ. Albumins gạo chứa protein với khối lượng phân tử trong khoảng 10-200 kDa, trong đó từ 16 kDa đến 60 kDa chiếm đa số.
Albumin cám chứa protein có khối lượng phân từ nhỏ hơn 100 kDa. Điểm đẳng điện của albumins là pH = 4,1 và 6,4 [4]. Glubulins hòa tan trong muối, glubulins gạo chứa nhiều cysteine, methionine chứa hàm lượng lysine rất thấp, và nó chiếm 15-36% protein của cám. Điểm pH đẳng điện là pH 4,3; 5,85; 7,27 và 7,9 [4].
Các prolamins gạo hòa tan trong dung dịch rượu (60-70%) ethanol và chiếm khoảng 4% cám. Các polypeptit của prolamin nằm trong khoảng từ 12 đến 17 kDa, chúng giàu glutamine, axit glutamic, alanin, glycine và arginine nhưng ít lysine. Trong tất cả các phần protein của hạt gạo, prolamin chứa lượng glutamine, axit glutamic cao nhất (19,9 mol%) và isoleucine (12,3 mol%) và chứa thấp nhất threonine (1,3 mol%), cysteine (0,1 mol%), glycine (6,2 mol%), 5 histidine (1,7 mol%), arginine (4,6 mol%), lysine (1,0 mol %) và methionine (0,8 mol%). Hàm lượng cao của các axit amide và hàm lượng thấp của các axit amin phân cực sẽ là một trong những lý do độ hòa tan thấp của prolamin trong nước.
Điểm đẳng điện của prolamins là pH = 6,0-6,5 [4]. Phần lớn protein của hạt gạo nằm trong phần glutelin. Protein trong glutelin tổng hợp rất rộng rãi gồm liên kết disulfide, và glycosyl hóa và khó hòa tan. Glutelin trong gạo bao gồm các protein trọng lượng phân tử cao nằm trong khoảng từ 45 đến 150 kDa.
Thành phần axit amin của glutelin không khác biệt nhiều so protein từ gạo vì nó là loại protein nhiều nhất trong gạo. Phần glutelin trong nội nhũ gạo chứa một số polypeptit có khối lượng phân tử 57 kDa, 34 - 37 kDa, 25 kDa, 21 23 kDa, 16 kDa và 14 kDa, và protein 57-kDa, protein bao gồm hai tiểu đơn vị 34 - 37 kDa (tiểu đơn vị α có tính axit) và 21 - 23 kDa (tiểu đơn vị β cơ bản) được liên kết bằng liên kết disulfua. Glutelins trong gạo được coi là tương tự như Legumins trong đậu nành và đậu và thuộc loại A và B. Glutelin loại B rất giàu lysine và được coi là một nguồn gen tốt để tăng hàm lượng lysine trong gạo.
Điểm đẳng điện của glutelin là pH = 4,8, 5,7 6,8 và 8,0 và 8,7 [4]. Glutenlin gạo hòa tan ít trong nước nhưng dễ dàng hòa tan trong kiềm pH > 10 và trong axit pH < 3 [4].3 Đánh giá các thông số dinh dưỡng 1. Tỷ lệ axit amin cần thiết trên tổng số axit amin (E/T %) [2] 1. Chỉ số axit amin thiết yếu (EAAI).
Được định nghĩa là giá trị trung bình của hình học của axitamin cần thiết trong thực phẩm so với axitamin trong trứng. Công thức tình như sau: Trong đó: 6 “p”: biểu thị cho mẫu protein thực phẩm. “s”: biểu thị cho mẫu protein tiêu chuẩn (của trứng). n: là số axit amin cần thiết, (bao gồm Lys, Met + Cys, Thr, Ile, Trp, Val, Leu, và Phe + Tyr, n=8).
Điểm axit amin (AAS) AAS được định nghĩa là thành phần axit amin giới hạn trong mẫu thực phẩm so với thành phần giới hạn axitamin trong mẫu chuẩn (g/100 protein) được khuyến cáo bởi FAO và WHO. Nó biểu thị giới hạn thành phần axit amin trong mẫu phân tích và mẫu chuẩn [2]. Điểm số hóa học (CS) Dùng để so sánh EAA cần thiết trong mẫu phân tích và EAA trong protein mẫu trứng. Tỷ lệ hiệu quả protein (PER).
Giá trị PER của protein bã gạo và protein đậu nành được tính toán bằng 3 phương trình hồi quy dựa trên hàm lượng Leu, Pro, Tyr, Met và His (g/100g protein) được đề xuất bởi Alsmeyer và cộng sự như sau: 1.4 Đánh giá giá trị dinh dưỡng của bã gạo 1. Thành phần axitamin cần thiết không thể thay thế Thành phần axit amin (g/100g protein) của protein bã gạo (RPD), protein isolate bã gạo (RPI) và protein isolate đậu nành (SPI) cùng với yêu cầu của FAO/WHO được thể hiện như bảng dưới.