Đặt vấn đề nghiên cứu Đường ghi là thiết bị mấu chốt hạn chế tốc độ chạy tàu, chiếm vị trí đặc biệt trong đường sắt cao tốc. Về chức năng và cấu tạo của đường ghi cao tốc so với đường ghi tốc độ bình thường không khác biệt, chỉ là yêu cầu cao hơn tính an toàn và mức độ dễ chịu. Những năm gần đây đường sắt các nước nghiên cứu đặc điểm bánh xe va đập vào ghi khi đoàn tàu chạy tốc độ cao, các vấn đề đường ghi cao tốc như: chiều đứng và bình diện ghi, cấu tạo, công nghệ chế tạo, cấu tạo tầng trên đường ghi và duy tu bảo dưỡng ghi, thiết kế chế tạo ra điều kiện chạy tàu khác nhau đường ghi cao tốc. Trên đường sắt cao tốc chủ yếu sử dụng ghi đơn.
Hiện nay ghi đơn đường sắt cao tốc chia làm hai loại: - Một loại là số hiệu ghi thường dùng phù hợp ghi chạy tàu cao tốc hướng thẳng khi nâng cao tốc độ chạy tàu khách trên tuyến khai thác hốn hợp tàu hàng tàu khách, để tránh khối lượng cải tạo công trình quá lớn, đa số bảo lưu bố trí bình diện ga như cũ, trường hợp này chiều dài ghi và góc NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 19 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT tâm ghi không nên cải tạo lớn, do đoàn khách cao tốc rất ít thậm chí không đi vào hướng rẽ mà chỉ yêu cầu đi trên hướng thẳng, cục bộ cải tạo trạng thái đường ghi cường hóa kết cấu ghi, tăng tính ổn định và tuổi thọ đảm bảo tốc độ đoàn tàu qua ghi hướng thẳng và tốc độ đoàn tàu chạy trên khu gian là như nhau. - Một loại khác là số hiệu ghi phù hợp cho phép tốc độ cao hướng thẳng và hướng rẽ (ghi đường vượt), dùng cho xây dựng mới tuyến chuyên dụng tàu khách tốc độ cao, đường ghi loại này thỏa mãn yêu cầu đoàn tàu cao tốc thông qua hướng rẽ, chạy tàu ổn định và hành khách ngồi tàu dễ chịu, số hiệu ghi lớn cho phép tàu chạy qua hướng rẽ tốc độ tương đối cao. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những yếu tố hình học chủ yếu của bộ ghi đường sắt cao tốc với tốc độ cao khi tàu đi qua hướng rẽ. Những yếu tố hình học chủ yếu này được lựa chọn sao cho đảm bảo được các thông số đầu vào là điều kiện tiên nghi cho hành khách đi tàu với tốc độ cao.
NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 20 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT CHƯƠNG II – TÍNH TOÁN YẾU TỐ HÌNH HỌC CỦA GHI ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC 2. Lưỡi ghi Lưỡi ghi là bộ phận chuyển đường, có tác dụng điều khiển hướng đi của đoàn tàu theo hướng thẳng hay theo hướng rẽ. Lưỡi ghi có hai loại: kiểu thẳng và kiểu cong. Lưỡi ghi thẳng có ưu điểm dễ chế tạo, thuận tiện khi thay thế, bào gọt đầu lưỡi ghi ít, độ cứng ngang lớn, bước di động lưỡi ghi và rãnh gờ bánh đốc ghi tương đối hẹp, loại này dùng cho số hiệu ghi nhỏ, tốc độ đoàn tàu thông qua ghi nhỏ, loại này được sử dụng cho đường sắt thông thường.
Lưỡi ghi cong dùng cho số hiệu ghi lớn và tốc độ qua ghi cao, lưỡi ghi dẫn đoàn tàu về hướng rẽ là lưỡi ghi cong còn lưỡi ghi dẫn đoàn tàu đi hướng thẳng là lưỡi ghi thẳng. Đường sắt cao tốc với yêu cầu tốc độ thông qua ghi lớn cho nên sử dụng lưỡi ghi cong, sau đây nghiên cứu về lưỡi ghi cho đường sắt cao tốc. Hình học lưỡi ghi Đường sắt cao tốc sử dụng lưỡi ghi cong. Đối với loại lưỡi ghi cong này lại được chia làm 2 kiểu, đó là: kiểu tiếp tuyến và kiểu cát tuyến - Kiểu tiếp tuyến: kiểu tiếp tuyến lưỡi ghi có thể hình dạng là cong tròn hoặc dạng đường cong chuyển tiếp.
Đối với lưỡi ghi có dạng cong tròn thì toàn bộ chiều dài lưỡi ghi là một cung tròn có bán kính không đổi (Hình 2-1). Đối với lưỡi ghi có dạng đường cong chuyển tiếp thì tại đầu lưỡi ghi có bán kính cong Rs sau đó bán kính giảm dần về trị số bán kính Rc (Hình 2-2). Loại lưỡi ghi cong kiểu tiếp tuyến thì chiều dài phần bào gọt ray lưỡi ghi lớn và chiều dài ghi cũng lớn. NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 21 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT Ray c¬ b¶n L−ìi ghi R Hình 2-1: Lưỡi ghi dạng cong tròn kiểu tiếp tuyến Ray c¬ b¶n L−ìi ghi Hình 2-2: Lưỡi ghi dạng cong chuyển tiếp kiểu tiếp tuyến Kiểu cát tuyến: kiểu này lưỡi ghi cũng có thể hình dạng là cong tròn hoặc dạng đường cong chuyển tiếp.
Loại này khi kéo dài đường cong thì nó vượt ra ngoài khổ đường của ray cơ bản. Đối với hình dạng lưỡi ghi là dạng đường cong chuyển tiếp thì tại mũi lưỡi ghi có bán kính cong là R1 còn tại gót ghi có bán kính cong là R2. Kiểu này cho chiều dài bào gọt lưỡi ghi ngắn hơn kiểu tiếp tuyến cũng như cho chiều dài ghi ngắn hơn. c¬ b¶n L−ìi ghi Hình 2-3: Lưỡi ghi dạng cong tròn kiểu cát tuyến NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 22 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT c¬ b¶n L−ìi ghi Hình 2-4: Lưỡi ghi dạng cong chuyển tiếp kiểu cát tuyến Ngoài ra còn có kiểu lưỡi ghi cong một phần: kiểu này có cấu tạo bao gồm đầu lưỡi ghi áp với ray cơ bản là thẳng, phần còn lại là cong.
Đường sắt cao tốc SNCF của Pháp sử dụng lưỡi ghi cong một phần với tổ hợp như sau: đoạn thẳng + đoạn cong tròn + đoạn cong bậc 3. Với loại lưỡi ghi này thiết kế cho ghi với tốc độ 220km/h và 250km/h. §o¹n th¼ng Cong trßn Cong bËc 3 Ray c¬ b¶n L−ìi ghi Hình 2-5: Hình học lưới ghi SNCF 2. Góc lưỡi ghi Khi bánh xe vượt qua mũi lưỡi ghi thì tại đó hướng đột ngột thay đổi kết quả là xuất hiện biến thiên gia tốc ly tâm và tương ứng lực ly tâm tại lưỡi ghi.
Độ lớn của lực chủ yếu phụ thuộc vào góc lưỡi ghi (góc vào lưỡi ghi hay góc rẽ). Bằng cách giảm góc lưỡi ghi khi vào ghi thì tàu chạy được êm thuận và lực gờ bánh xe giảm đi. Góc lưỡi ghi nhỏ tạo được bằng cách lắp ráp (sử dụng) lưỡi ghi cong tiếp tuyến. Kiểu tiếp tuyến góc lưỡi NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 23 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT ghi rất nhỏ có thể so sánh với kiểu cát tuyến.
Đường sắt Ấn Độ thiết kế lưỡi ghi cong kiểu cát tuyến. Bảng 2-1: Mối quan hệ giữa vận tốc và góc lưỡi ghi. Vận tốc V Góc lưỡi ghi β Chú ý (Km/h) 100 0015’00’’ 160 0008’00’’ 220 0004’23’’ Thử nghiệm với đường sắt SNCF Đối với vận tốc lớn hơn 220 km/h thì sử dụng góc lưỡi ghi nhỏ hơn 0004’23’’. Chiều dài lưỡi ghi Chiều dài lưỡi ghi phụ thuộc vào cấu tạo dạng hình học của nó, góc lưỡi ghi β, chiều rộng khe hở gót ghi.
Lưỡi ghi cong tròn kiểu tiếp tuyến Ls h R Hình 2-6: Sơ đồ tính lưỡi ghi cong tròn kiểu tiếp tuyến Ở đây: Ls là chiều dài lưỡi ghi(m) R là bán kính đường cong(m) NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 24 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT h là khoảng cách giữa má tác dụng của ray cơ bản và má tác dụng của ray lưỡi ghi ở vị trí gót ghi. Theo sơ đồ ta có: 2 Ls ( R h) 2 R 2 (2.1-1) Từ đó suy ra: Ls 2.1-2) Do h2 nhỏ hơn rất nhiều so với 2.h nên có thể bỏ qua, khi đó ta có: Ls 2. Lưỡi ghi dạng đường cong chuyển tiếp kiểu tiếp tuyến Lưỡi ghi dạng đường cong chuyển tiếp sử dụng đường cong bậc 3 x3 có phương trình y (lấy số hạng đầu tiên của đường cong Clothoid).C Đối với lưỡi ghi dạng này có thể xảy ra 2 trường hợp khi sử dụng Trường hợp 1: Lưỡi ghi dạng đường cong chuyển tiếp đầy đủ. Loại này bán kính ở mũi lưỡi ghi là vô cùng sau đó giảm về trị số R tại gót lưỡi ghi.
Ls h = Hình 2-7: Sơ đồ tính lưỡi ghi dạng đường cong chuyển tiếp đầy đủ kiểu tiếp tuyến 2 x3 L Tại gót ghi ta có: x = Ls và h y s 6.R NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 25 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT Từ đó ta có: Ls 6.1-4) Trường hợp 2: Lưỡi ghi dạng đường cong chuyển tiếp không đầy đủ. Loại này bán kính cong tại mũi lưỡi ghi là Rs sau đó bán kính giảm về giá trị R tại gót lưỡi ghi. R Rs h H y2 y1 l /3 Ls l Lo Hình 2-8: Sơ đồ tính lưỡi ghi dạng đường cong chuyển tiếp không đầy đủ kiểu tiếp tuyến Theo sơ đồ tính ta có: L0 = Ls + l (*) y2 = H – h Theo tính chất của 2 tam giác đồng dạng ta có: l y1 l 3 y2 l L l 3.Ls s 3 Theo tính chất của đường cong chuyển tiếp: l3 L2 y1 ; H 0 6.l (**) NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 26 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT L0 2 L 2 6.Ls 3 Từ (*) (**) và (***) giải ra ta được: 6. Lưỡi ghi dạng cong chuyển tiếp kiểu cát thuyến Hình 2-9: Sơ đồ tính lưỡi ghi dạng đường cong chuyển tiếp kiểu cát tuyến Sử dụng lý thuyết hình học khi chuyển tiếp từ bán kính R2 đến R1 Hình 2-10: Chuyển tiếp từ R2 đến R1 NGUYỄN ĐỨC TÂM CAO HỌC XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT – K16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT 27 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT Xét điểm P trên đường cong chuyển tiếp, ta có: l3 a 6.1-7) Trong đó: L – chiều dài đường cong chuyển tiếp R1 .R2 RE – bán kính tương đương, RE R2 R1 Áp dụng hình 2-9: điểm P ở vị trí gót ghi, chiều dài lưỡi ghi Ls = l = L, khe hở gót ghi h = a + b.RE Suy ra: h=a+b= s Ls .h Chiều dài lưỡi ghi: Ls (2.
Phần nối dẫn 2. Lý thuyết hình học – gia tốc ly tâm và sự chuyển tiếp 2.